CHƯƠNG 1 CÁC ĐẶC TRƯNG KHAI THÁC CỦA ĐƯỜNG PHỐ 6 LÀN XE TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Tổng quan về Thành Phố Hồ Chí Minh 1.1 Vị trí địa lý, dân số, việc làm, kinh tế [14] 1) Vị trí địa lý Hình 1.HCM với tổng diện tích là 2,095 km², ở vị trí 10o10’-10o38’ Bắc và 106o02’- 106o54’ Đông; nằm ở trung tâm Nam Bộ, Bắc giáp Bình Dương, Tây Bắc giáp Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp Đồng Nai, Đông Nam giáp Bà Rịa Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp Long An, Tiền Giang, Nam giáp biển Đông với chiều dài bờ biển là 15 km; là trung tâm kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học lớn nhất ở khu vực phía Nam. Đây cũng là một đầu mối giao thông lớn nhất cả nước, là cửa ngõ của thế giới với tất cả các loại hình vận tải: đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển và hàng không. 2) Dân số 5 Theo số liệu thống kê năm 2015, dân số TP.HCM là 8,2 triệu người (chưa tính số dân ngoại tỉnh làm việc và học tập tại thành phố) với mật độ dân số 3,913 người/km², được dự báo có thể đạt đến 13,2 triệu người vào năm 2025, hình thành nên một siêu đô thị rộng lớn [11].
3) Việc làm Tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động ở TP.HCM rất cao và chiếm tới 65% (ở Hà Nội là 57%). Lý do cho điều này là do thành phố có nhiều dân nhập cư và đa số ở độ tuổi lao động. Phân bố việc làm theo ngành nghề khác nhau [14]. 2010 201555 Người (%) Người (%) Tổng cộng 3.000 100,00 Phân loại theo thành phần kinh tế 1.
Có vốn đầu tư nước ngòai 327.921 11,98 Phân loại theo ngành nghề 1. Loại II (Công nghiệp – Xây 1.000 50,09 4) Về kinh tế TP.HCM là trung tâm kinh tế, công nghiệp của cả nước, chiếm hơn 50% tổng giá trị sản phẩm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và 22-30% tổng giá trị sản phẩm quốc gia, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm trung bình trên 11% trong suốt hai thập kỷ vừa qua.HCM thực sự là trung tâm kinh tế, là đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế của Việt Nam và toàn bộ bán đảo Đông Dương, đóng góp một tỷ lệ lớn cho ngân sách quốc gia. Tăng trưởng kinh tế hàng năm tại TP.HCM và toàn quốc [11].HCM Cả nước Năm GDP trên đầu Mức tăng GDP trên đầu Mức tăng người (USD) GDP (%) người (USD) GDP (%) 2012 2.432 7,92 Mặc dù TP.HCM có thu nhập bình quân đầu người rất cao so với mức bình quân của cả Việt Nam, nhưng khoảng cách giàu nghèo ngày các lớn do những tác động của nền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, kinh tế phát triển đã kéo theo nhu cầu về vận tải (hàng hóa và hành khách) và số lượng phương tiện tăng nhanh, tạo áp lực lên kết cấu hạ tầng giao thông đô thị.
Hiện trạng quan hệ phát triển kinh tế và an toàn giao thông.2 Hiện trạng hệ thống giao thông đường bộ [6] Mạng lưới giao thông đường bộ thành phố bao gồm các trục quốc lộ do Trung ương quản lý và các đường tỉnh, đường liên tỉnh, đường trong đô thị do thành phố quản lý. Tổng chiều dài đường các cấp hạng khoảng hơn 4150 km, trong đó: Tổng diện tích đất dành cho giao thông là 76.484 m2 trong đó đất dành cho 7 công trình giao thông đường bộ là 53.345 m2, mật độ đường giao thông đạt khoảng 1,98 km/km2. Quỹ đất dành cho giao thông rất thấp lại phân bố không đều trên địa bàn toàn thành phố (bảng 1. Phân chia quỹ đất dành cho giao thông [6].
Tỷ lệ diện tích đất giao Mật độ (km/1000 Khu vực thông/đất đô thị (%) dân) Các quận nội thành cũ Sài Gòn – Chợ Lớn: Quận 1, 3, 17,4 – 21,4 0,31 5 Các quận nội thành khác: Quận 4, 6, 8, 10, 11, Bình 5,2 – 15,0 0,24 Thạnh, Phú Nhuận, Tân Bình Các quận mới: Quận 2, 7, 9, 0,2 – 3,1 0,84 12 và các huyện ngoại thành Toàn thành 22,8 – 39,5 1,39 Hệ thống vận tải hành khách công cộng tại Thành phố Hồ Chí Minh cho tới thời điểm hiện nay vẫn chưa giữ được vai trò chủ đạo trong hệ thống vận tải đô thị. Theo quy hoạch đến năm 2015, hệ thống vận tải hành khách công cộng thành phố phải đáp ứng 15% nhu cầu đi lại của người dân. Tuy nhiên, thực tế hiện nay hệ thống mới đáp ứng được khoảng 7%. Trong đó, loại hình vận tải bằng xe buýt là loại hình vận tải chính, đáp ứng khoảng 5% nhu cầu đi lại, 2% còn lại là của vận tải bằng taxi.
8 Với số lượng phương tiện giao thông cá nhân tăng nhanh (trung bình khoảng 9,0%/năm), tính đến tháng 3 năm 2016 trên địa bàn thành phố hiện có hơn 7,5 triệu phương tiện giao thông các loại, trong có trên 660 nghìn xe ô tô và 6,9 triệu xe môtô- xe gắn máy, tăng 6,77% so với cùng kỳ năm 2015, chưa tính đến hàng triệu xe mang biển số của các tỉnh thành khác vào thành phố làm việc, học tập. Hệ thống giao thông đô thị đang bị quá tải dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông tăng cao trong những năm gần đây [14]. 24 điểm nóng kẹt xe ở TP. Hồ Chí Minh [6].
Hệ thống các đường vành đai đã hoạch định dần được đầu tư xây dựng, các trục hướng tâm đã và đang được cải tạo, nâng cấp tuy nhiên vẫn còn thiếu, cấp hạng kỹ thuật và mặt cắt ngang của các tuyến hiện có vẫn chưa đạt yêu cầu quy hoạch. Một số công trình tiêu biểu như: trục đường Võ Văn Kiệt – Mai Chí Thọ; đường Phạm Văn Đồng; đường Nguyễn Văn Linh; hệ thống đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương, Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây, … góp phần làm thay đổi bộ mặt giao thông và cải thiện tình hình giao thông của Thành phố nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu giao thông ngày một tăng nhanh của TP. Toàn thành phố có trên 1.350 nút giao cắt trong đó có khoảng 120 nút quan trọng thuộc 75 đường phố chính và các trục giao thông đối ngoại nhưng đa số là giao cắt đồng mức; năng lực thông qua của các nút thấp. Chưa kể 26 vị trí đường ngang 9 giữa đường sắt với đường bộ càng gây thêm tình trạng ùn tắc mỗi khi có tàu chạy, đặc biệt là vào giờ cao điểm [6].
Số tuyến đường tập trung chủ yếu trong khu vực nội thành (chiếm 67%), tuy nhiên tổng chiều dài đường trong khu vực nội thành lại thấp hơn so với chiều dài đường ở khu vực ngoại thành. Thêm vào đó khoảng cách giữa các nút rất ngắn, trung bình khoảng 100-300m/nút trên tổng chiều dài trung bình toàn tuyến 2000 m. Điều này cho thấy mặc dù mật độ đường trong khu nội thành là cao nhưng hầu hết là những tuyến đường có chiều dài ngắn, có tính chất nội bộ trong khu vực quận. Tình trạng kỹ thuật của mạng lưới đường trên các khu vực cũng có sự chênh lệch lớn: các đường ở các quận cũ hình thành khá rõ mạng ô bàn cờ thuận lợi cho giao thông, mặt đường thảm nhựa êm thuận, hệ thống thoát nước, chiếu sáng, vỉa hè, cây xanh hoàn chỉnh; các đường ở các quận mới có mặt đường thấp so với mực nước triều, vỉa hè hẹp, ít hoặc không có cây xanh; các đường ở các huyện ngoại thành phần lớn mới chỉ được láng nhựa, tiêu chuẩn hình học thấp.
Phần lớn các đường đều hẹp: chỉ có khoảng 28% số đường 4 đến 6 làn xe có lòng đường rộng trên 7m để có thể tổ chức vận chuyển hành khách bằng xe buýt; 72% số đường còn lại có lòng đường rộng dưới 7m chỉ đủ cho xe hai bánh lưu thông [6], [14]. Đối với các tuyến đường có chiều rộng dưới 7m thì số lượng đường lại chủ yếu tập trung ở khu vực nội thành và có chiều dài ngắn. Do vậy, tổ chức vận tải xe buýt tại khu vực trung tâm thành phố là rất khó khăn nếu không có các giải pháp hạn chế xe cá nhân. Mặc dù trong những năm gần đây Thành phố đã nổ lực mở rộng đường từ 2 làn xe lên 4 đến 6 làn xe như là một trong những giải pháp giải quyết ùn tắc giao thông, nhưng tỷ lệ 28% đường phố 4-6 làn xe vẫn là rất thấp và chưa xứng tầm với một siêu đô thị rộng lớn như TP.
Bên cạnh đó việc đánh giá hiệu quả của đường phố 6 làn xe ở TP.HCM thông qua Khả năng thông hành của đường đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thể nào. Các đặc trưng khai thác của đường phố 6 làn xe tại thành phố Hồ Chí Minh Các tuyến đường 6 làn xe trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh luôn có những đặc điểm khai thác hoàn toàn khác biệt nhau: Lưu lượng xe, thành phần xe, khả năng 10 thông hành, mật độ, tốc độ dòng xe và mức độ làm việc trên các tuyến là hoàn toàn khác nhau. Tổ chức giao thông trên tuyến Võ Thị Sáu. Tổ chức giao thông trên tuyến Cộng Hòa.
Nhận xét: - Các đường phố chính 6 làn xe ở TP. HCM có chiều dài toàn tuyến dao động từ 1-5 km; số lượng giao cắt cùng mức trên tuyến lớn từ 12 – 45 nút; khoảng cách giữa 11 các nút điều khiển bằng đèn tín hiệu tương đối ngắn, trung bình 250 m/nút. - Bề rộng các làn đường và vỉa hè phân bố không điều: làn đường từ 1,6 m – 4,6 m và vỉa hè từ 3,2 m – 8 m. Trên 95% diện tích vỉa hè bị lấn chiếm để kinh doanh, buôn bán, giữ xe, v.v… - Đặc trưng khai thác chính của đường phố 6 làn xe ở TP.
HCM được tổ chức như hình 1.5, theo khảo sát thực tế của tác giả: + Làn 1 (làn giáp tim đường) được phân luồng cho xe con, xe tải và xe buýt: Tỷ lệ lưu thông trung bình của xe con là 35%, xe buýt và xe tải là 8,5%, xe máy là 50,3%. + Làn 2 (làn giữa làn 1 và làn 3) được tổ chức phân luồng cho xe máy, xe con và xe buýt: Tỷ lệ lưu thông trung bình của xe máy là 87,5%, xe con 9,7%, xe buýt 1,0%. + Làn 3 (bên tay phải sát vỉa hè) được phân luồng cho xe 2 và 3 bánh: Tỷ lệ lưu thông trung bình của xe máy là 97%, xe thô sơ và 3 bánh là 0,75%. + Mặc dù đã có phân luồng tổ chức giao thông theo làn nhưng xe máy vẫn chạy trên cả 3 làn đường và chiếm tỷ lệ cao, thành phần dòng xe phân bố không đều trên cả 3 làn.