Đặt vấn đề Rừng luôn là tài sản quý giá mà thiên nhiên ban tặng, rừng luôn giữ vai trò hết sức quan trọng từ xưa tới nay. Song song với sự phát triển của toàn cầu rừng luôn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống con người, các giá trị kinh tế, xã hội và môi trường rừng đem lại vô cùng to lớn. Rừng che phủ một phần ba diện tích lục địa, thực hiện nhiều chức năng, cung cấp các dịch vụ thiết yếu và duy trì sự sống trên trái đất. Ước tính hiện nay có khoảng 6 tỷ người trên trái đất sống phụ thuộc vào rừng.
Rừng đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu, cung cấp O2 cho khí quyển và tổng hợp CO2 thải ra. Rừng cung cấp nguyên liệu cho nghành công nghiệp chế biến gỗ và giấy, cung cấp các sản phẩm cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu đạt giá trị cao. Rừng cung cấp nơi ở, việc làm, là nền tảng văn hoá của các cộng đồng dân cư trong khu vực rừng. Theo thống kê năm 2010, giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,4 tỷ USD, tăng 31,2%; sản phẩm mây tre, cói lá, thảm đạt 169 triệu USD, tăng 16,48% so với cùng kỳ năm trước.
Trong cơ cấu giá trị nông sản xuất khẩu của Việt Nam năm 2010, gỗ và sản phẩm gỗ đứng vị trí thứ 3, hàng mây tre, cói lá, thảm đứng vị trí thứ 10 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003) [1]. Diện tích rừng trồng keo đang tăng mạnh ở Việt Nam, trong đó Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) và Keo lai là những loài cây được trồng chính trên phạm vi cả nước. Keo tai tượng là loài cây có phạm vi sinh thái rộng, sinh trưởng nhanh, thích ứng với các điều kiện lập địa khác nhau. Keo tai tượng được trồng với mục đích cải tạo môi trường sinh thái, chống xói mòn, bảo vệ đất, giữ và điều tiết nguồn nước, tạo cảnh quan trong các n 2 khu du lịch, danh lam thắng cảnh… và cung cấp nguyên vật liệu cho ngành chế biến bột giấy, gỗ ván dăm, ngành xây dựng… Cũng chính vì diện tích rừng tăng nhanh dẫn đến sự xuất hiện nhiều của sâu bệnh hại làm giảm chất lượng gỗ, gây chết cây.
Một trong các bệnh hại keo có bệnh loét thân với triệu chứng héo tán lá, sau đó gỗ bị biến màu đen và cây bị nhiễm bệnh chết xuất hiện ở nhiều vùng sinh thái. Bệnh này được xác định là do nấm Ceratocystis sp. Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam công tác tuyển chọn giống, lai tạo, tuyển chọn loài, xuất xứ và các dòng vô tính chống chịu sâu bệnh hại và các điều kiện bất lợi tốt đang là hướng đi mới, phát triển bền vững trong công tác quản lí dịch bệnh hại cây rừng. Ngoài ra nhiều nhà khoa học đã đi sâu vào nghiên cứu VSVNS là những vi sinh vật sống trong mô tế bào của cây chủ, không gây bệnh cho cây chủ.
Các VSVNS này thúc đẩy quá trình sinh trưởng của cây chủ vì tạo ra một hàng rào kiểm soát sinh học bằng việc tiêu diệt trực tiếp hoặc ức chế các mầm bệnh đã xâm nhiễm vào cây chủ, làm giảm nguy cơ mắc bệnh đối với cây trồng đã và đang được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm. Phương pháp này được coi là biện pháp hữu hiệu và thân thiện với môi trường. Đã và đang được sử dụng nhiều nước trên thế giới, với nền khoa học nước ta những nghiên cứu mới này mới chỉ là bước đầu, do vậy việc đi sâu nghiên cứu về khuẩn nội sinh có khả năng kháng bệnh là rất quan trọng và cấp thiết. Từ nghiên cứu đó làm sáng tỏ vai trò của vi khuẩn nội sinh trong việc bảo vệ cây chủ khỏi sự xâm nhiễm của sinh vật gây bệnh và ứng dụng chúng trong phòng trừ bệnh chết héo keo do nấm Ceratocystis sp.
Do vậy, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá tính kháng nấm Ceratocystis sp. gây bệnh chết héo keo tai tượng thông qua cặn dịch chiết từ dịch nuôi cấy vi sinh vật nội sinh trong phòng thí nghiệm” làm khóa luận tốt nghiệp đại học. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Xác định được loại dung môi tách chiết được lượng cặn dịch chiết hiệu quả nhất. - Đánh giá được khả năng ức chế nấm Ceratocystis sp.
của cặn dịch chiết từ dịch nuôi cấy các chủng VSVNS thử nghiệm. - Tìm ra được cặn dịch chiết từ dịch nuôi cấy các chủng VSVNS có khả năng ức chế nấm Ceratocystis sp hiệu quả nhất trên lá Keo tai tượng. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học + Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm hiểu biết về việc nghiên cứu xác định khả năng ức chế nấm Ceratocystis sp. của cặn dịch chiết từ dịch nuôi cấy các chủng VSVNS.
- Ý nghĩa trong thực tiễn: + Qua quá trình thu thập số liệu giúp tôi học hỏi và làm quen với thực tế sản xuất và khoa học. + Qua những đánh giá cụ thể về bệnh hại chúng ta có thể tìm ra được các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến ngành Lâm nghiệp và phát triển kinh tế rừng. + Làm cơ sở và tài liệu cho những đề tài và nghiên cứu có liên quan. - Ý nghĩa học tập: + Củng cố kiến thức đã học, bổ sung kiến thức chuyên môn.
+ Biết cách tổng hợp, phân tích để viết báo cáo nghiên cứu khoa học. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Nghiên cứu về Keo tai tượng Keo tai tượng (Acacia mangium Wild) có nguồn gốc từ Australia, Papua New Guinea và Indonesia và đã trở thành một loài cây được trồng phổ biến ở vùng nhiệt đới.
Từ những năm 1980, các lô hạt giống thu hái ở vùng nguyên sản đã được gửi tới 90 nước trên thế giới. Trong đó Philippin, Malaysia, Thái lan, Indonesia, Ấn Độ, Bangladesh, Fiji, Trung Quốc và Việt Nam. Chúng có sức sinh trưởng nhanh, trên điều kiện lập địa ở Sabah - Malaysia sau 10 - 13 năm cây đạt chiều cao 20 - 25 m và đường kính 20 - 30 cm, tăng trưởng bình quân ở đây là 44 m3/ha/năm và cũng ở Sabah trong một khảo nghiệm ở tuổi 4, xuất xứ tốt nhất đạt chiều cao 20,17 m và đường kính 14,4 cm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [10]. Keo tai tượng được đưa vào trồng ở Trung Quốc từ những năm 1960, tới năm 1997 có khoảng 200.000 ha keo được trồng ở phía Nam Trung Quốc gồm 4 tỉnh là Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam, tốc độ trồng rừng hàng năm khoảng 20.
Cho đến năm 2008, có 179 xuất xứ và 469 gia đình thuộc 21 loài keo được khảo nghiệm ở miền Nam Trung Quốc với tổng diện tích là 130 ha, Keo tai tượng là một trong ba loài keo đã được đưa vào trồng rừng trên diện rộng nhằm cung cấp gỗ. Dựa vào sinh trưởng và dạng thân chọn được các xuất xứ có triển vọng là Abergowie (Qld), Claudie River (Qld), Oriomo (PNG). Trung Quốc đã xây dựng được 40 ha rừng giống, vườn giống tại Quảng Đông và Hải Nam, bao gồm cả vườn giống thế hệ 1 và 1,5. Theo ước tính, các rừng giống và vườn giống này có thể cung cấp khoảng 1.000 kg hạt giống/năm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [10].
n 5 Keo được đưa vào khảo nghiệm và gây trồng ở Philipin từ những năm 1980. Trong đó Keo tai tượng được đánh giá là rất có triển vọng, năng suất của rừng trồng 10 tuổi đạt tới 32 m3/ha/năm ở Tal ogon. Qua khảo nghiệm đã xác định được 04 xuất xứ tốt nhất là Kini, Bensbach, Wipim (PNG), Claudie River (Qld). Tính đến cuối năm 1990, diện tích rừng trồng Keo tai tượng ở Sabah - Malaysia khoảng 14.
Kết quả khảo nghiệm xuất xứ 06 tuổi cho thấy 03 xuất xứ có triển vọng là Western Province (PNG), Claudie River (Qld) với D1.3 = 19,1 cm và Olive River (Qld) với giá trị tương ứng là 18,7 cm. Còn ở khảo nghiệm xuất xứ 05 tuổi xác định được 03 xuất xứ tốt nhất là Broken Pole Creke (Qld), Abergowrie (Qld), và Olive River (Qld) (Racz và Zakaria, 1986) [24], (Khamis, 1991) [19]. Papua New Guinea từ năm 1950, có khoảng 60.000 ha rừng trồng các loài keo, trong đó Keo tai tượng chiếm khoảng 15 - 16%. Sinh trưởng chiều cao vút ngọn của Keo tai tượng trên các lập địa tốt đạt 5 m/năm trong 2,5 năm đầu (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [10].
Việc trồng Keo tai tượng trên quy mô công nghiệp đã được triển khai ở Indonesia từ đầu những năm 1980, đến năm 1990 đã có xấp xỉ 38000 ha rừng trồng Keo tai tượng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy và gỗ xẻ (Werren và cs, 1991) [30]. Nghiên cứu về bệnh hại keo Bệnh cây rừng đã được bắt đầu nghiên cứu trên 150 năm nay, là một môn khoa học có nhiều cống hiến cho công tác nghiên cứu, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn. Những năm ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập trung vào việc xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh. Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, Roger L.
Trong đó có một số bệnh hại lá của n 6 thông, keo, bạch đàn …. John Boyce (1961) xuất bản sách Bệnh cây rừng (Forest pathology) đã mô tả một số bệnh hại cây rừng. Cuốn sách này được xuất bản ở nhiều nước như: Anh, Mỹ, Canada (Roger L. (1954) đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây keo.
Bệnh khô héo làm lá rụng và tàn lụi từ trên xuống dưới (chết ngược) do loài nấm hại lá Glomerella cingulata (giai đoạn vô tính là Colletotrichum gloeosporioides) là nguyên nhân chủ yếu của sự thiệt hại với loài Keo tai tượng (Acacia mangium) trong vườn giống ở Papua New Guinea. Tại Malaysia, theo nghiên cứu của Lee (1993) loài nấm này còn gây hại các loài keo khác. Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng công bố nhiều loại nấm bệnh hại keo. (1953) tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn nghiên cứu và phát triển của các loài Acacia, họp tại Đài Loan (Roger L.
Trong thực tế có một số nấm bệnh đã được phân lập từ một số loài keo. Đó là Glomerella cingulata gây bệnh đốm lá ở A.simsii; Uromycladium robinsonii gây bệnh rỉ sắt ở lá giả loài A.melanoxylon; Oidium sp. auriculiformis ở Trung Quốc nhưng loài A.confusa (Đài Loan tương tư) địa phương lại không bị.