ĐẶT VẤN ĐỀ Đau lƣng là bệnh lý rất phổ biến gây ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh [1],[2]. Tùy vào vị trí đau mà phân chia đau lƣng thành 4 khu vực chính là đau cổ, đau lƣng trên, đau thắt lƣng và đau vùng cùng cụt [3]. Các cơn đau lƣng có thể diễn biến cấp tính, bán cấp tính hoặc mãn tính tùy thuộc vào khoảng thời gian đau, đau cấp tính diễn ra trong khoảng thời gian vài ngày đến 4 tuần, đau bán cấp từ 4 đến 12 tuần và đau mãn tính kéo dài hơn 12 tuần [4]. Trong đó những cơn đau ở thắt lƣng là phổ biến nhất [5] và thƣờng liên quan tới công việc hoặc có bất thƣờng về giải phẫu vùng cột sống [2].
Đau thắt lƣng do nhiều nguyên nhân, trong đó, đau lƣng do thoái hóa cột sống hay gặp nhiều nhất. Theo Nguyễn Xuân Nghiên, số bệnh nhân đau thắt lƣng do thoái hoá cột sống vào điều trị tại các khoa khớp, khoa vật lý trị liệu chiếm khoảng 50% so với các bệnh khác [6]. Đau thắt lƣng gặp ở tất cả các lứa tuổi, tuổi trung bình phụ thuộc vào nguyên nhân [7], khoảng 65-80% những ngƣời trƣởng thành trong cộng đồng có đau thắt lƣng cấp tính hoặc từng đợt một vài lần trong cuộc đời và có khoảng 47-54% đau tái phát trở lại, trong đó có khoảng 10% số này bị chuyển thành đau thắt lƣng mạn tính [8],[9]. Trên toàn thế giới, khoảng 40% số ngƣời và ƣớc tính tới 80% dân số ở các nƣớc phát triển bị đau thắt lƣng tại một số thời điểm trong cuộc đời [10] [11].
Đau thắt lƣng làm giảm chất lƣợng sống của bệnh nhân, là nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao gây giảm năng suất, mất khả năng lao động ở lực lƣợng lao động ở Canada, Anh, Hà Lan và Thụy Điển [12]. Y học hiện đại (YHHĐ) điều trị đau thắt lƣng do thoái hóa cột sống thắt lƣng (THCSTL) chủ yếu sử dụng các nhóm thuốc chống viêm, giảm đau, giãn cơ kết hợp chiếu tia hồng ngoại, sóng ngắn, siêu âm, kéo giãn cột sống thắt lƣng,… [13]. Tuy nhiên, hiệu quả còn hạn chế. Ngoài ra, bệnh nhân còn có nguy cơ chịu tác dụng không mong muốn trên đƣờng tiêu hóa nhƣ viêm dạ dày, loét dạ dày tá tràng, xuất huyết đƣờng tiêu hóa khi dùng thuốc giảm đau chống viêm kéo dài [14].
Theo Y học cổ truyền (YHCT), đau thắt lƣng có bệnh danh là ‗‘Yêu thống‘‘ với đặc điểm chứng trạng đau nhức, tê bì, hạn chế vận động vùng thắt lƣng. Có nhiều Luan van 2 phƣơng pháp của YHCT để điều trị bệnh lý này nhƣ: Châm cứu, điện châm, xoa bóp bấm huyệt, tác động cột sống, sử dụng thuốc đông dƣợc hoặc kết hợp Y học hiện đại và YHCT nhƣ thủy châm, cấy chỉ catgut vào huyệt [15]. Với mong muốn kế thừa và phát huy những tinh hoa của YHCT, bệnh viện Y học cổ truyền Đà Nẵng đã nghiên cứu thành công chế phẩm hoàn 3T trong điều trị đau cổ vai do thoái hóa cột sống cổ. Chế phẩm hoàn 3T đã đƣợc nghiên cứu độc tính cấp và bán trƣờng diễn và thể hiện hiệu quả điều trị giảm đau, cải thiện tầm vận động cột sống cổ và chức năng sinh hoạt trên lâm sàng, đồng thời chƣa thấy có tác dụng phụ trong quá trình điều trị.
Để có thể phát triển rộng rãi hơn về phạm vi sử dụng của hoàn 3T trên bệnh lý đau do nguyên nhân thoái hóa ở những vị trí khác nhƣ cột sống thắt lƣng. Trong phạm vi đề tài, chỉ đề cập đến đau thắt lƣng cấp tính do thoái hóa cột sống, thuộc chứng Yêu thống theo Y học cổ truyền. Chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá tác dụng viên Phong thấp 3T trong điều trị đau lƣng cấp” nhằm mục tiêu: 1. Đánh giá tác dụng của viên Phong thấp 3T trong điều trị đau lƣng cấp.
Theo dõi tác dụng không mong muốn của viên Phong thấp 3T trong điều trị. Luan van 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm giải phẫu sinh lý - bệnh lý vùng thắt lƣng 1.1 Đặc điểm giải phẫu cột sống thắt lƣng: - Đoạn thắt lƣng gồm 5 đốt sống, 4 đĩa đệm và 2 đĩa đệm chuyển đoạn đây là nơi chịu tải 80% trọng lƣợng cơ thể, và có tầm hoạt động rộng theo mọi hƣớng. Để bảo đảm chức năng nâng đỡ, giữ cho cơ thể ở tƣ thế đứng thẳng, cột sống thắt lƣng hơi cong về phía trƣớc với các góc: +Góc cùng: tạo bởi đƣờng thẳng ngang và đƣờng thẳng chạy qua mặt trên: 30°. +Góc thắt lƣng cùng: tạo bởi trục L5 và S1: 140° +Góc nghiêng xƣơng chậu: tạo bởi đƣờng thẳng ngang với đƣờng thẳng nối giữa ụ nhô với bờ trên xƣơng mu.1 Hình ảnh giải phẫu các đốt sống thắt lƣng [18] 1.1 Cấu tạo đốt sống thắt lƣng: Cấu tạo bởi hai phần chính bao gồm thân đốt ở phía trƣớc và cung đốt ở phía sau.
- Thân đốt: là phần lớn nhất của đốt sống, có hình trụ dẹt. Chiều ngang lớn hơn chiều trƣớc sau và chiều cao. Mặt trên và mặt dƣới là mâm sụn. - Cung đốt sống: có hình móng ngựa, liên quan hai bên là mỏm khớp liên cuống, mỏm khớp chia cung sống thành hai phần: phía trƣớc là cuống sống, phía sau là lá cung, gai sau gắn vào cung sống ở đƣờng giữa sau, hai mỏm ngang ở Luan van 4 hai bên gắn vào cung sống ở gần mỏm khớp, giữa thân đốt sống với cung sống là ống tuỷ.
Riêng L5 thân đốt ở phía trƣớc cao hơn ở phía sau để tạo độ ƣỡn thắt lƣng. - Mỏm ngang: có hai mỏm ngang chạy từ cung đốt sống ra ngoài. - Gai sống: có một gai dính vào cung đốt sống. - Lỗ đốt sống nằm ở giữa, thân đốt sống nằm ở trƣớc và cung đốt sống nằm ở sau tạo nên ống sống trong đó có tuỷ sống.2 Cơ - dây chằng Hình 1.2 Hình ảnh giải phẫu dây chằng cột sống [18] Cơ vận động cột sống: gồm hai nhóm chính là nhóm cơ cạnh cột sống và nhóm cơ thành bụng.
Nhóm cơ cạnh cột sống: chạy từ cổ đến xƣơng cùng, có đặc điểm càng nằm sâu thì càng ngắn, nhóm cơ này gồm có cơ cùng thắt lƣng (cơ chậu sƣờn), cơ lƣng dài và cơ ngang gai, ba cơ này hợp thành khối cơ chung nằm ở rãnh sống cùng và rãnh thắt lƣng. Tác dụng làm duỗi cột sống, đồng thời có thể phối hợp với nghiêng, xoay cột sống. Nhóm cơ thành bụng, gồm có: - Cơ thẳng: Nằm ở phía trƣớc thành bụng, có hai bó cơ thẳng nằm ở hai bên đƣờng giữa. Vì nằm phía trƣớc trục cột sống, nên cơ thẳng bụng là cơ gập thân ngƣời rất mạnh.
Luan van 5 - Nhóm cơ chéo: Có hai cơ chéo (cơ chéo trong, cơ chéo ngoài). Các cơ chéo có chức năng xoay thân ngƣời, khi xoay sang bên trái cần cơ chéo ngoài phải và cơ chéo trong trái hoạt động và ngƣợc lại. Dây chằng cột sống: Các dây chằng giúp cho cột sống vững vàng đồng thời hạn chế những vận động quá mức của cột sống. Dây chằng dọc trƣớc và dây chằng dọc sau là hai dây chằng dài nhất, đều bắt đầu từ xƣơng chẩm chạy tới xƣơng cùng.
- Dây chằng dọc trƣớc, phủ mặt trƣớc cột sống, bám vào thân đốt và đĩa đệm. - Dây chằng dọc sau, phủ mặt sau các thân đốt, bám vào đĩa đệm, không bám vào mặt sau thân đốt, bám vào thân đĩa đệm nhƣng không phủ kín phần sau bên của phần tự do. - Dây chằng vàng dầy và khỏe phủ mặt sau của ống sống. - Các dây chằng liên gai, dây chằng liên mỏm gai, dây chằng trên gai nối các gai sống với nhau.
Ngoài những dây chằng, trên đốt L4-L5 còn đƣợc nối với xuơng chậu bởi những dây chằng thắt lƣng chậu, những dây chằng này đều bám vào đỉnh mỏm ngang L4, L5 và bám vào tận mào chậu ở phía truớc và phía sau. Dây chằng thắt lƣng chậu căng dãn giúp hạn chế sự di động quá mức của hai đốt sống thắt lƣng L4, L5.3 Lỗ liên đốt, sự phân bố thần kinh cột sống Lỗ liên đốt sống: Rễ thần kinh thoát ra khỏi ống sống qua lỗ liên đốt, lỗ này đƣợc giới hạn ở phía trƣớc là bờ sau bên của đĩa đệm, ở phía trên và phía dƣới là cuống sống của hai đốt kế cận nhau, ở phía sau là mỏm khớp là khớp liên cuống, phủ phía trƣớc khớp liên cuống là bao khớp và phần bên của dây chằng vàng. Luan van 6 Phân bố thần kinh cột sống: Từ phía trong rễ thần kinh xuyên qua màng cứng đi ra ngoài tới hạch giao cảm cạnh sống tách ra các nhánh: - Nhánh trƣớc: phân bố cho vùng trƣớc cơ thể.3 Hình ảnh giải phẫu thần kinh và đám rối thắt lƣng, cùng cụt [18] - Nhánh sau: phân bố cho da, cho cơ vùng lƣng cùng bao khớp và diện ngoài của khớp liên cuống. - Nhánh màng tủy: đi từ hạch giao cảm, chui qua lỗ liên đốt vào ống sống, chi phối cho các thành phần bên trong bao gồm khớp liên cuống, dây chằng dọc sau, bao tủy.
Do có sự liên quan về giải phẫu nên bất cứ sự thay đổi nào của những thành phần liên quan ở lỗ liên đốt cũng sẽ kích thích rễ thần kinh gây ra đau đớn.2 Thoái hóa cột sống thắt lƣng Thoái hóa cột sống, còn đƣợc gọi là hƣ xƣơng sụn đốt sống (osteochondrosis). Hƣ xƣơng sụn đốt sống bao gồm cả thoái hóa đĩa đệm và thoái hóa đốt sống [16],[19],[20]. Thoái hóa đĩa đệm: Quá trình thoái hóa đĩa đệm diễn biến theo 5 giai đoạn: Luan van 7 - Vòng sợi ở phía sau bị yếu, lồi ra phía sau ở một điểm do nhân nhầy ấn lõm vào, quá trình này có sự rách đồng tâm trong vòng sợi, tuy nhiên đĩa đệm vẫn còn giữ đƣợc chức năng sinh-cơ học và chƣa có biểu hiện lâm sàng. - Có sự rách các sợi Collagen của vòng sợi ở khu vực bờ viền giữa nhân nhầy và bản sụn và lấn tới dần dần hƣớng ra phía ngoài, áp lực nội đĩa đệm giảm làm cho các đốt sống tiến gần nhau hơn.
Có thể gặp trƣờng hợp đau thắt lƣng cấp khi có tác động cơ học gây chuyển dịch khối lƣợng đĩa đệm. - Vòng sợi bị rách cả ở phần ngoại vi của đĩa đệm, đƣờng rách ở một số điểm đã đi hết cả chiều dày vòng sợi. Giới hạn giữa nhân nhầy và lớp trong của vòng sợi biến dạng, lồi lõm, có sự xâm nhập của các tổ chức liên kết, dẫn tới hình thành các tổ chức sợi hạt đĩa đệm. Trên lâm sàng thƣờng gặp đau thắt lƣng cấp nếu rễ thần kinh bị kích thích hoặc bị chèn ép do lồi, thoát vị đĩa đệm kèm theo, có thể bị đau thắt lƣng hông.