Chương 1 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Nghiên cứu về đánh giá hiệu quả mô hình rừng trồng 1. Trên thế giới Từ những năm 50 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các mô hình rừng trồng đã bắt đầu được fiến hành và nøày càng được hoàn thiện, thống nhất trong phạm vi toàn thế giới. Gunter trường Đại học Tổng hợp thuộc bang Michigan — Mỹ đã xuất bản giáo trình “Những vấn đề cơ bản trong đánh giá đầu tư lâm nghiệp”.
Trong đó, chủ yếu ông đưa.ra những cơ sở để đánh giá hiệu quả rừng trồng bao gồm các công thức tính lãi suất, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả rừng trồng như giá trị thu nhập và chỉ phí, giá trị hiện tại thuần túy, tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ, fÿ lệ thu nhập trên chỉ phí, đánh giá chất lượng cây gỗ và đất rừng,. Đây là một tài liệu khá đầy đủ và hoàn chỉnh để giới thiệu các chỉ tiêu và cơ sở để đánh giá hiệu quả từ đơn giản đến phức tạp (dẫn theo Trần Hữu Dào, 2001). Năm 1979, Tổ chức Lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) đã xuất bản giáo trình “ Phân tích các dự án lâm nghiệp” do Hans — Maregersen va Amodo H. Contresal biên soạn.
Tài liệu này được FAO dùng để giảng dạy tại các nước có đầu tư dự án trồng rừng và phát triển Lâm nghiệp. Giáo trình đã đề cập đến các nội dung: Tiếp cận các phân tích dự án lâm nghi ơng pháp xác định chỉ phí đầu tư vào dự án, phương pháp đánh gi. Đây là một tài liệu tương đối đầy đủ và phù hợp với điều kiện đánh u quả dự án lâm nghiệp ở nhiêu nước trên thê giới (dân theo Nhiều quốc gi Re ` việc đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng trông như: - Trồng rừng ở Braxin: Trồng rừng ở Braxin là một thành công hết sức khích lệ. Năm 1991, Campinhos đã thông báo kết quả thực tiễn năng suất rừng trồng trong suốt 30 năm.
Có thể thấy do nhờ chọn giống, nhân giống hom và thâm canh mà năng suất rừng trồng tăng 5% mỗi năm: - Trồng rừng ở Công Gô: Diện tích rừng trồng bằng cây horn ở Công Gô từ năm 1978 đến năm 1986 là 23407 ha. Tăng trưởng bình quân năm ở tuổi 6 của các dòng vô tính được chọn là 35 mỶ/ha/năm so với 12 /ha/năm ở các lô hạt chưa được tuyển chọn và 25 mỶ/ha/năm của éắc xuất xứ đã được tuyển chọn. Như vậy tăng 40% lên 192% tức là gần 5 lầñ so với rừng trồng chưa được cải thiện. - Trồng rừng ở Nam Phi: Quaile (1989) thông:báo kết quả rừng trồng bằng cây con từ hạt đạt tăng trưởng bình quân 21;9-m”/ha/năm, trong khi đó các dòng vô tính trồng đại trà đạt trên 30 m”/ha/năm.
Các dòng vô tính từ vật liệu chọn giống thế hệ cho năng suất cao hơn và đồng đều hơn cây con từ hạt. Kết quả trên của Quaile là đòn bẩy-khích lệ công tác trồng rừng vô tính phục vụ nguyên liệu công nghiệp ở Nam Phi. Tháng 10/1997, Đại hội Lâm ñghiệp thế giới đã tổ chức tại Antdya (Turkey) với chủ đề chính “Lâm nghiệp phục vụ cho sự phát triển bền vững ”. Qua việc tổng hợp sơ bộ một số công trình nghiên cứu đánh giá hiệu quả các mô hình canh tác cho thấy hầu hết các công trình chủ yếu tập trung vào đánh giá hiệu quả kính tế, còn ít quan tâm đến hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
Nhuway, “trên thé giới việc đánh giá hiệu quả các mô hình rừng trồng đã được hú ý rấ iéu va phổ cập rộng rãi, được nhiêu quôc gia vận dụng. Ở Việt =, Tone ời kỳ ao cấp từ năm 1976 đến năm 1986, các hoạt động trồng “va cham sóc chưa được quan tâm đúng mức. Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng trồng chỉ mang tính chất hình thức, phương thức đánh giá cũng như các chỉ tiêu đánh giá còn đơn giản. Do vậy kết quả chưa phản ánh chính 3 xác hiệu quả thực tế mà rừng trồng mang lại.
Từ sau Đại hội Dang toàn quốc lần thứ VI (1986), với việc xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường thì nền kinh tế đã có bước chuyển mình và đã có những thay đổi lớn. Các hình thức sản xuất không phù hợp dần bị đào thải và thay vào đó là hoạt động sản xuất tiến bộ hơn, phù hợp với thời đại, vấn đề đánh giá hiệu quả của các mô hình rừng trồng cũng được chú trọng hơn: Cũng từ đó việc đánh giá hiệu quả các phương thức sản xuất kinh doanh với các chỉ tiêu và phương pháp phù hợp thay thế những chỉ tiêu và phương pháp thiếu tin cậy cũ. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, những năm gần đây một số lớp đào tạo về phương pháp và kỹ thuật đánh giá do nước ngoài tải trợ cùng với sự giúp đỡ của các tổ chức nhằm tạo điều kiện cho chúng ta có phương pháp đánh giá phù hợp cho các mô hình kinh doanh rừng trồng: Năm 1983, Việt Nam bắt đầu đi sâu vào nghiên cứu chính thức chương trình về tài nguyên thiên nhiên và môi trường: Năm 1990, P. Stahl một chuyên gia về lâm sinh cùng với nhà kinh tế hoc Heine Kerekula da tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế trong hoạt động kinh doanh rừng trồng Bạch đàn làm NLG tại khu công nghiệp giấy Bãi Bằng, trong công trình này, các tác giả đề cập đến các chỉ tiêu kinh tế như: NPV, IRR.
Ngoài các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế, bước đầu tác giả đã gián tiếp đề cập đến các chỉ tiêu xã hội và môi trường nhưng chỉ là những dự đoán chung còn những ảnh hưởng của Bạch đàn đối với đất chưa được tính toán cụ thê(Trần Công Quân, 1995). Nam 1991, Wiet Nam đã soạn thảo va phát triển chiến lược về bảo vệ XS méi trudng‘phu “Vié Nam — kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâu bền [ÖðT` 1 Kế hoạch đã dẫn đến việc xây dựng và thông qua luật bảo vệ môi trường nm 1994. Năm 1995, Trần Hữu Dào đã nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh doanh trên cả 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường sinh 4 thái của mô hình rừng trồng Quế thâm canh thuần loài quy mô hộ gia đình Văn Chấn — Yên Bái. Tuy nhiên đề tài mới chỉ thiên về đánh giá hiệu quả kinh tế, chưa chú trọng và đề cập sâu đến hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
Năm 1997, Đỗ Doãn Triệu đã biên soạn tài liệu “Đánh giá kinh tế các dự án đầu tư trồng rừng trong cơ chế thị trường”. Tài liệu này đã đề cập đến phương pháp phân tích các dự án trồng rừng, đặc biệt là phân tích tài chính và phân tích kinh tế dự án. Trong những năm gần đây, ngành Lâm nghiệp cũn§ tiến hành nghiên cứu đánh giá hiệu quả của dự án phát triển Lâm nghiệp, đặc biệt dự án PAM, dự án 327,. Nhưng do thiếu những cơ sở khoa học cần thiết nên phần lớn các nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế trong Lâm nghiệp đều áp dụng hình thức tiếp cận sinh lý.
Nhìn chung, những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế rừng trồng ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã được chú ý quan tâm nhiều hơn. Các kết quả nghiên cứu đã xác định được hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách tổng hợp. Vấn để đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình rừng trồng khác nhau và việc áp dụng đánh giá hiệu quả các mô hình rừng trồng đã được áp dựng nhiều, việc đánh giá này là vô cùng cần thiết và quan trọng đối với các đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh rừng trồng, có như vậy mới lựa chọn ra được mô hình có hiệu quả cao về nhiều mặt, đáp ứng cho sự phát triển lâm nghiệp một cách bền vững, ss diénnựch lớn, có nhiều mô hình rừng khác nhau. Vì vậy 2 Sy ‘m6 hình rừng trông là rất cần thiết trong giai đoạn chọn loài cây trồng, nô hình rừng trồng mang lại hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt.
Nghiên cứu về các loài cây. Nghiên cứu về Keo lai Ácacia hybrid Keo lai là tên gọi tắt để chỉ giống lai giữa Keo tai tượng (4eacia mangium) va Keo 1a tram (Acaci auriculiformis). Giéng lai nay duoc Mesrs Herburn và Shim phát hiện lần đầu tiên năm 1972 6 Malaysia (dẫn theo Lê Đình Khả, 1997). Ở nước ta, Keo lai đã xuất hiện lác đác ở một Số nơi vùng Nam Bộ như Tân Tạo, Trảng Bom, Sông Mây, Trị An và Ba Vì (Hà Nội), Phú Thọ, Hòa Bình, Tuyên Quang.
thuộc Bắc Bộ (Lê Đình Khả, 1999). Những cây lai này đã xuất hiện trong rừng Keo tai tượng với các tỷ lệ khác nhau. Ở các tỉnh miền Nam là 3 — 4%, còn ở Ba Vì là 4 — 5%, riéng giống lai tự nhiên ở Ba Vì được xác định là giữa Ácacia mangium với caci auriculjformis của Australia. Keo lai có ưu thế rõ rệt về sinh trưởng so với Keo tai tượng và Keo lá tràm.
Ưu thế lai này thể hiện ở cä&Ba Vì, Nam Bộ và nhiều nơi khác. Theo điều tra sinh trưởng tại rừng trồng Keo tai tượng có xuất hiện Keo lai ở Ba Vì cho thấy Keo lai có sinh trưởng nhanh hơn Keo tai tượng từ 1,5 — 1,6 lần về chiều cao và 1,64 — 1,98 lần về đường kính đặc biệt ở giai đoạn 4 tuổi rưỡi Keo lai có thê tích gap 2 lần Keo tai tượng (Lê Đình Khả và cộng sự, 1999). Ở Sông Mây, so sánh Keo lá tràm cùng tuổi đã thấy rằng Keo sinh trưởng nhanh hơn Keo lá tràm 1,3 lần về chiều cao và 1,5 lần về đường kính (Lê Đình Khả cùng cộng sự; 1999). z CO A bién déng về chiêu cao và đường kính của Keo lai ở vi tri trung gian giữa o tai tượng và Keo lá tràm.
Nói cách khác, nó có ưu điêm là đường và chiều cao đồng đều hơn Keo tai tượng (Lê Đình Khả, Nguyễn Đì | Pham Van Tuan, 1997) Tuy vậy, ở miệt số nơi Keo lai sinh trưởng nhanh, cây lai vượt lên tán rừng Keo tai tượng, thân cây thẳng đẹp và tròn đều, tán lá phát triển cân đối. Nhưng ở nhiều nơi khác, Keo lai lại thể hiện bản chất xấu như xum xuê hơn Keo tai tượng, nhiều thân hoặc cành nhánh lớn, phát triển kém. Do vậy, khi 6 trồng rừng Keo lai cần xác định nguồn gốc để lựa chọn những dòng Keo lai sinh trưởng, phát triển tốt.