CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 1.1 Khái niệm và quan điểm chung về hiệu quả kinh tế Hiệu quả là một phạm trù kinh tế chung nhất liên quan trực tiếp với nền sản xuất hàng hóa. Hiệu quả được xem xét dưới nhiều góc độ và nhiều quan điểm khác nhau. Về hiệu quả kinh tế (HQKT), có hai quan điểm: Truyền thống và hiện đại cùng tồn tại [30].
* Quan điểm truyền thống về hiệu quả kinh tế Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến hiệu quả kinh tế tức là nói đến phần còn lại của sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí. Nó được đo bằng các chi phí và lời lãi. Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn. Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh.
- HQKT được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và các chi phí bỏ ra (các nguồn nhân lực, vật lực…) để đạt được kết quả đó. HQKT = K/C Trong đó: K là kết quả sản xuất C là chi phí sản xuất Culicop cho rằng: “Hiệu quả sản xuất là kết quả của một nền sản xuất nhất định, chúng ta sẽ so sánh kết quả với chi phí cần thiết để đạt được kết quả đó. Khi lấy tổng sản phẩm chia cho vốn sản xuất chúng ta được hiệu suất vốn, tổng sản phẩm chia cho vật tư được hiệu suất vật tư, tổng sản phẩm chia cho số lao động được hiệu suất lao động” [1]. Với cách tính này chỉ rõ được mức độ hiệu quả của sử dụng các nguồn lực sản xuất khác nhau, từ đó so sánh được HQKT của các quy mô sản xuất khác nhau.
Nhược điểm của cách đánh giá này là không thể thực hiện được 4 quy mô của HQKT nói chung. Ở Việt Nam một số tác giả như Trần Văn Đức (1993) cho rằng: “ HQKT được xem xét trong mối tương quan giữa một bên là kết quả thu được và một bên là chi phí bỏ ra” [5]. - HQKT được đo bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. HQKT = K – C Tác giả Đỗ Thịnh (1988) cũng cho rằng: “Thông thường hiệu quả đạt được biểu hiện như một hiệu số giữa kết quả và chi phí…Tuy nhiên trong thực tế có nhiều trường hợp không thực hiện được phép trừ, hoặc phép trừ không có ý nghĩa.
Do vậy, nói một cách khác linh hoạt hơn nên hiểu hiệu quả kinh tế là một kết quả tốt nhất phù hợp mong muốn” [18] * Quan điểm mới về HQKT Nhằm khắc phục những hạn chế của quan điểm truyền thống. Quan điểm mới ra đời căn cứ vào tổ hợp các yếu tố: - Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào đầu ra. Mối quan hệ này cần phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency), hiệu quả phân bổ các nguồn lực (Allocative efficiency) và hiệu quả kinh tế (Economic efficiency). + Hiệu quả kĩ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên 1 đơn vị chi phí đầu vào, hiệu quả kĩ thuật được áp dụng phỗ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn lực cụ thể, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm.
+ Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên 1 đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực. + Hiệu quả kinh tế: là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. - Yếu tố thời gian: 5 Các nhà kinh tế hiện nay đã coi thời gian là yếu tố trong tính toán hiệu quả.
Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng hai dự án có hiệu quả khác do thời gian thu hồi vốn khác nhau. - Hiệu quả tài chính xã hội và môi trường: Theo quan điểm toàn diện HQKT nên được đánh giá trên ba phương diện: Hiệu quả tài chính, xã hội và hiệu quả môi trường. Hiệu quả tài chính mà trước đây ta quen gọi là hiệu quả kinh tế thường được thể hiện bằng những chỉ tiêu như lợi nhuận, giá thành, tỉ lệ nội hoàn vốn, thời gian hoàn vốn…, hiệu quả xã hội và môi trường thể hiện bằng những chỉ tiêu như việc làm, sự công bằng xã hội, sự tự lập của cộng đồng và sự được bảo vệ hoặc sự hoàn thiện hơn của môi trường sinh thái… Nhìn chung, các quan điểm trên đều đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh theo tiêu chí chất lượng nhất định, nhưng hạn chế của những quan điểm trên đều chưa thể hiện được bản chất của nền kinh tế và bản chất của xã hội, mà mới chỉ dừng lại xem xét trong phạm vi một doanh nghiệp một đơn vị sản xuất kinh doanh mang tính chất trực tiếp, chưa gắn bó lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích xã hội, chưa giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và xã hội. Cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và ( hoặc) dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn.
Đó là những thay đổi theo thời gian của các hình thái thời tiết trên toàn thế giới, nhiệt độ trung bình tăng hay còn gọi là sự nóng dần lên của Trái Đất, tăng nồng độ khí nhà kính hoặc khí Carbon thải ra từ các hoạt động của con người và đọng lại trong khí quyển. Biến đổi khí hậu đã và đang nhận được sự quan tâm của toàn cầu mà nguyên nhân là do sự phát thải CO2 và khí nhà kính từ suy thoái rừng, mất 6 rừng; Hội nghị thay đổi Khí hậu (Climate Change Conference) đã ký thỏa hiệp Bali (Indonesia) do Liên Hợp Quốc chủ trì vào ngày 15 tháng 12 năm 2007 với sự tham gia của 187 Quốc gia thành viên trên thế gới. Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu (The Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC) dự báo khoảng 1,5 tỷ tấn carbon sẽ phát thải hàng năm do thay đổi sử dụng đất rừng nhiệt đới, chiếm 1/5 khí CO2 phát thải trên toàn thế giới – nhiều hơn cả phát thải toàn cầu trong ngành giao thông. Lần đầu tiên, hội nghị đã nêu lên chương trình giúp đỡ việc hạn chế sự phá hủy vùng rừng nhiệt đới trên thế giới để giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính "Giảm thiểu khí phát thải từ suy thoái và mất rừng" (Reducing Emissions from Deforestation and Degradation - REDD).
Hội nghị cũng đã chính thức công bố các dự án thử nghiệm cho phép các nước đang phát triển có thể tham gia chương trình REDD. Theo đó các nước phát triển sẽ đáp ứng một số mục tiêu giảm phát thải của nước họ bằng cách mua các tín dụng carbon của các nước đang phát triển từ những cánh rừng hấp thụ CO2. Một số dự án REDD đang được thực hiện ở châu Á nhằm mục đích chính thức đưa chương trình này vào nội dung tiếp theo của Nghị định thư Kyoto bắt đầu từ năm 2013. Tổng quan nghiên cứu về NLKH 1.
Tổng quan nghiên cứu về NLKH ngoài nước Đi sâu vào tìm hiểu cội nguồn lịch sử của NLKH King (1987) [26] khẳng định rằng ở Châu Âu thời kỳ Trung Cổ người ta đã phát quang rừng, đốt cành nhánh và canh tác cây lương thực mục đích là để tận dụng dinh dưỡng của đất rừng. Du canh được đánh giá là phương thức canh tác cổ xưa nhất lúc này con người đã tích lũy được ít nhiều những kiến thức sơ đẳng về tự nhiên. Loài người đã vượt qua được các thời kỳ này bằng các cuộc cách mạng về kỹ thuật 7 và chăn nuôi, trồng trọt, song không phải tất cả các nước mà có không ít các nước vận động rất chậm trong cuộc cách mạng này. Sau du canh sự ra đời của phương thức Taungya ở vùng nhiệt đới được xem như là một sự báo trước cho phương thức NLKH sau này.
Theo Blanford (1858) (dt Phạm Quang Vinh và cs, 2005) [27] nguồn gốc của phương thức này là từ ngôn ngữ của địa phương Myanma: Taung nghĩa là canh tác, ya là đồi núi, như vậy Taungya là phương thức canh tác trên đất đồi núi, điều đó cũng đồng nghĩa với phương thức canh tác trên đất dốc. NLKH là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây lâu năm với hoa màu và/ hay vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện sinh thái và xã hội, theo hình thức phối hợp không gian và thời gian, để gia tăng sức sản xuất tổng thể của thực vật trồng và vật nuôi một cách bền vững trên một đơn vị diện tích đất, đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các vùng đất khó khăn [29]. NLKH là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu năm (cây gỗ, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp.) được trồng có suy tính trên cùng 1 đơn vị diện tích qui hoạch đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới hệ thống xen theo không gian hay theo thời gian. Trong các hệ thống NLKH có mối tác động hỗ tương qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng [27].
Các khái niệm trên đơn giản mô tả NLKH như là một loạt các hướng dẫn cho một hệ thống sử dụng đất liên tục. Tuy nhiên, NLKH như là một kỹ thuật và khoa học đã được phát triển thành một điều gì khác hơn là các hướng dẫn. Ngày nay nó được xem như là một ngành nghề và một cách tiếp cận về sử dụng đất trong đó đã phối hợp sự đa dạng của quản lý tài nguyên tự nhiên một cách bền vững [26]. 8 Như vậy bản chất của hệ thống NLKH là hệ thống sử dụng đất để canh tác nông nghiệp nhưng có sự kết hợp giữa cây (hoặc/và) con nông nghiệp với cây lâm nghiệp trên cùng một đơn vị diện tích, đơn vị kinh doanh.
Tuy nhiên sự kết hợp này có thể diễn ra đồng thời hoặc cũng có thể kế tiếp nhau về mặt không gian hay thời gian. Xét về thành phần một hệ thống NLKH gồm có: - Các cây thân gỗ sống lâu năm.