CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 1. Những vấn đề cơ bản về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng 1.1: Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM được hiểu theo nghĩa tổng quan nhất có nghĩa là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt được trong quá trình hoạt động kinh doanh mang lại. Do đó, HQHĐ kinh doanh gồm hai mặt là hiệu quả kinh tế (phản ảnh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, hoặc của xã hội để đạt kết quả cao với chi phí thấp) và hiệu quả xã hội (phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được trong quá trình kinh doanh). Hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và nó đánh giá mức độ thành công của các ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các yếu tố đầu vào để sử dụng và các yếu tố đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu đã đề ra.
Theo như một số quan điểm quốc tế, điển hình là quan điểm của ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) (2010) cho rằng: “Hiệu quả hoạt động là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững, lợi nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho các khoản lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế về vốn, rồi cải thiện lợi nhuận thu được trong tương lai thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại”. Từ các quan điểm ở trên, hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, vốn và các yếu tố khác để đạt mục tiêu mà các NHTM đã đề ra. Phân tích hiệu quả hoạt động của NHTM chính là phân tích năng lực tài chính, năng lực điều hành, xem xét, đánh giá quá trình thực hiện chiến lược kinh doanh và phát hiện những sai lệch so với kế hoạch, từ đó xác định được nguyên nhân và đề ra biện pháp xử lý kịp thời. Cũng nhờ đó mà đảm bảo được hiệu quả cho HĐKD của các NHTM để đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa.
HQHĐ kinh doanh là điều kiện quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng. Bởi vậy việc xác định các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh 10 doanh của các ngân hàng là điều cần thiết, nhằm hạn chế các hoạt động có tính rủi ro, cải tiến, nâng cao thu nhập và vị thế của ngân hàng. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Các nhà nghiên cứu thường thông qua các chi tiêu tài chính để phân tích, đánh giá HQHĐ kinh doanh của các NHTM. Đây là một phương pháp phân tích đơn giản, các số liệu tính toán sẵn có dựa trên các báo cáo tài chính của các NHTM đã được kiểm toán và công bố công khai.
Thông qua chỉ số tài chính, các nhà quản trị có được cái nhìn trực quan hơn về hiệu quả hoạt động của ngân hàng đồng thời có thể phân tích và so sánh tình hình tài chính giữa các NHTM với nhau và từ đó đưa ra những chiến lược phù hợp. Đối với ngân hàng, HQHĐ kinh doanh không chỉ là thước đo chất lượng phản ảnh trình độ quản lý mà còn là vấn đề sống còn của ngân hàng. Với xu thế hội nhập như hiện nay, muốn tồn tại và phát triển thì đòi hỏi các ngân hàng kinh doanh phải có hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh càng cao, ngân hàng càng có điều kiện mở rộng và phát triển quy mô hoạt động của mình.
Yêu cầu đặt ra đó là việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá sao cho phù hợp, phản ánh đúng nhất bản chất về năng lực tài chính của các NHTM. Nhìn chung, các chỉ tiêu này sẽ thường được phân chia thành 03 nhóm chính bao gồm: nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi, nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh và nhóm chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động của ngân hàng. a, Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời: - Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROA = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 ROA là chỉ số đánh giá hiệu quả trong công tác quản lý tài sản của ngân hàng hay là thước đo hiệu quả của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tổng tài sản bình quân. Hay có thể nói, tỷ lệ này cho thấy hiệu quả của các nguồn lực của công ty được sử dụng để tạo ra thu nhập.
ROA cũng phụ thuộc vào các chính sách, định hướng trong từng thời kỳ cụ thể cũng như ảnh hưởng của các nhân tố không thể kiểm soát của nền kinh tế. ROA càng cao thì càng tốt vì ngân hàng đang kiếm được nhiều tiền 11 hơn trên lượng đầu tư ít hơn. Tuy nhiên, nếu mức sinh lợi quá lớn cũng có thể ngân hàng phải đối đầu với những rủi ro lớn do thực hiện các hoạt động đầu tư quá mạo hiểm hoặc giảm dự trữ xuống quá mức cần thiết. Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỷ lệ lãi suất ngân hàng phải trả cho các khoản vay nợ.
Nếu một ngân hàng không kiếm được nhiều hơn số tiền mà họ đã chi cho các hoạt động đầu tư, đó sẽ là một dấu hiệu không tốt. - Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE) 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROE = 𝐵ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 𝑉𝐶𝑆𝐻 Chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn chủ sở hữu bình quân của ngân hàng sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm). Nói cách khác, ROE đánh giá lợi ích mà cổ đông (chủ sở hữu của ngân hàng) có được từ nguồn vốn bỏ ra. Tương tự như ROA, ROE trong những nghiên cứu trước đây cũng được chứng minh phụ thuộc vào các yếu tố như tài sản, tỷ lệ vốn chủ, tiền gửi khách hàng, tăng trưởng kinh tế, lạm phát,.
Tuy nhiên vì khả năng giải thích của ROE là thấp hơn so với ROA nên trong các nghiên cứu trước đây, nó ít được sử dụng hơn, nguyên nhân chủ yếu đến từ đặc thù kinh doanh của ngành ngân hàng là sử dụng phần lớn nguồn vốn huy động được từ khách hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu rất thấp. Tuy vậy, đây vẫn là một chỉ số quan trọng trong đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng. - Tỷ lệ thu nhập cận biên (NIM) 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 − 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑙ã𝑖 NIM = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng từ hai hoạt động kinh doanh truyền thống là huy động vốn và cấp tín dụng, phản ánh vai trò trung gian tài chính của ngân hàng. Giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lời của mình thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và việc tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp nhất.
NIM cũng được đề cập đến trong các nghiên cứu trước đó nhưng do chưa phản ánh được chi phí dự phòng rủi ro tín dụng nên NIM ít được sử dụng. Thời gian gần đây các ngân hàng thương mại thực hiện nhiều hoạt động phi lãi như: kinh doanh chứng khoán, góp vốn đầu tư, kinh doanh ngoại hối, .khiến cho NIM 12 chưa phản ảnh được chính xác khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại. b, Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh thường được sử dụng bao gồm: ➢ Tổng thu nhập hoạt động/ Tổng tài sản: Tỷ lệ này thể hiện mức hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của ngân hàng. Tỷ lệ này càng lớn cho thấy ngân hàng đã phân bổ tài sản một cách hợp lý, giúp nâng cao lợi nhuận của ngân hàng.
➢ Hiệu quả hoạt động (tổng chi phí hoạt động/ tổng tài sản): Hiệu quả hoạt động phản ánh khả năng quản lý các chi phí liên quan đến hoạt động của ngân hàng như tiền lương, chi phí đầu tư tài sản….tỷ lệ hiệu quả hoạt động thấp thể hiện hiệu quả trong quản lý chi phí hoạt động của ngân hàng. c, Nhóm chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động của ngân hàng: Theo Ongore và các cộng sự (2013) thì các chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động ngân hàng cũng thường xuyên được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Nhóm chỉ tiêu bao gồm: ➢ Tỷ lệ an toàn vốn (Tổng vốn chủ sở hữu / tổng tài sản): Tỷ lệ an toàn vốn cho thấy sức mạnh về nguồn vốn của ngân hàng và là một trong những tỷ lệ cơ bản để xác định năng lực về vốn của ngân hàng. Tỷ lệ này cao cho thấy nhu cầu tài trợ vốn bên ngoài của ngân hàng thấp và ngân hàng có thể tái phân phối nguồn vốn để gia tăng thêm lợi nhuận của mình.
Ngoài ra, tỷ lệ an toàn vốn cao còn thể hiện khả năng chịu đựng các cú sốc từ bên ngoài và khả năng quản lý rủi ro của các cổ đông ngân hàng. ➢ Chất lượng tài sản: Chất lượng tài sản được đo lường bằng hai tỷ lệ bao gồm tỷ lệ cho vay / tổng tài sản và tỷ lệ nợ xấu / Tổng tài sản. Trong đó, tỷ lệ cho vay chia cho tổng tài sản để đo lường nguồn thu nhập và các kỳ vọng về lợi nhuận của ngân hàng. Các khoản nợ xấu chia cho tổng tài sản là thước đo quan trọng về chất lượng tài sản.
Tỷ lệ này còn thể hiện được cụ thể danh mục cho vay nào đang làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của ngân hàng. ➢ Tỷ lệ thanh khoản (tài sản thanh khoản / tổng tài sản): Tỷ lệ này càng cao thì các ngân hàng sẽ càng chịu đựng được các rủi ro thanh khoản cao hơn và ngược lại. Vì tài sản thanh khoản là loại tài sản mà ngân hàng dễ dàng chuyển đổi 13 thành tiền khi có nhu cầu liên quan đến thanh khoản. Do đó tài sản này thường có mức sinh lời rất thấp nên ngân hàng nên xem xét điều chỉnh nắm giữ loại tài sản này một cách hợp lý để tối ưu hóa lợi nhuận của ngân hàng.
➢ Tỷ lệ nợ xấu (Nợ xấu/ Tổng dư nợ tín dụng): Tỷ lệ này thường được sử dụng để đo lường rủi ro tín dụng của các ngân hàng. Chỉ số này càng nhỏ thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng cao, ngân hàng ít gặp rủi ro trong hoạt động.