Chương 1 đã giới thiệu tổng quát về mục tiêu nghiên cứu, dữ liệu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu trong luận văn. Bằng việc sử dụng mô hình nghiên cứu 3 biên ngẫu nhiên SFA với mẫu nghiên cứu gồm 15 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2015 để đánh giá HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam. Từ đó luận văn đưa ra các gợi ý giải pháp phù hợp để cải thiện và nâng cao HQHĐ của các NHTMCP. 4 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH SFA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Theo Kumbahakar và lovell (2000) thì hiệu quả là khả năng sử dụng đầu vào tối thiểu để sản xuất ra một đầu ra cho trước, hoặc là khả năng sản xuất sản lượng tối đa từ một đầu vào nhất định.
Hiệu quả bao gồm 2 loại là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Hiệu quả kỹ thuật là việc sử dụng các đầu vào vật lý cho trước (như lao động, máy móc, nhà xưởng…) để sản xuất ra các đầu ra với sản lượng tốt nhất. Hiệu quả kỹ thuật được biết đến như khả năng tối đa hóa đầu ra của một đơn vị trong điều kiện đầu vào cho trước (định hướng đầu ra), hoặc tối thiểu hóa tổng đầu vào để sản xuất một lượng đầu ra nhất định (định hướng đầu vào). Tóm lại, hiệu quả thể hiện khả năng và trình độ của đơn vị trong việc sử dụng các nguồn lực có giới hạn Như ta đã biết, ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp với những hoạt động mang tính chất đặc trưng riêng với mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận.
Vì vậy, việc đánh giá HQHĐ của NHTM cũng dựa trên những nền tảng lý thuyết như đánh giá HQHĐ của một doanh nghiệp tổ chức. Do đó, trong luận văn này, tác giả xem xét việc đánh giá HQHĐ của các NHTMCP dựa trên tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế: cho thấy khả năng của một ngân hàng kết hợp các nguồn lực đầu vào (lao động kỹ thuật vốn…) thành các đầu ra (thu nhập lợi nhuận…) 2.2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM Theo Ongore và các cộng sự (2013) và Masood và các cộng sự (2012) thì các yếu tố ảnh hưởng đến HQHĐ của các NHTM được phân thành hai nhóm nhân tố chủ yếu: nhóm nhân tố bên trong và nhóm nhân tố bên ngoài. Nhóm nhân tố bên trong chủ yếu liên quan là các nhân tố liên quan đến các nhân tố đặc trưng của ngân hàng như: năng lực về vốn, khả năng thanh khoản, rủi ro tín dụng, khả năng sinh lời và các yếu tố liên quan đến năng lực quản lý của ban lãnh đạo. Trong khi đó, nhóm nhân tố bên ngoài phản ánh sự tác động của kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng kinh tế, chính sách pháp luật mà các ngân hàng đang hoạt động.1 Các nhân tố bên trong 2.1 Năng lực về vốn Theo nghiên cứu của Berger (1997) và Sufian và Habibullah (2010) trong trường hợp các ngân hàng có tỷ lệ nguồn vốn thấp gây ra các trạng thái rủi ro cho ngân hàng.
Do đó, một cấu trúc vốn mạnh sẽ góp phần tác động tích cực đến HQHĐ của ngân hàng. Ngoài ra, năng lực về vốn mạnh sẽ là một cơ sở cho các ngân hàng có thể chống đỡ được các điều kiện kinh tế vĩ mô không ổn định và tăng tính an toàn cho khách hàng người gửi tiền vào ngân hàng (Athanasoglounn và các cộng sự, 2008). Tại Việt Nam, nguồn vốn ảnh hưởng đến rất nhiều đến quy mô kinh doanh của ngân hàng. Những ngân hàng có nguồn vốn mạnh và ổn định thì có nhiều lợi thế hơn trong hoạt động điển hình như lợi thế về mở rộng qui mô, chiếm lĩnh thị trường hay cả phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng.2 Chỉ tiêu khả năng thanh khoản của ngân hàng: Rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu hoặc không đủ khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính thường xuyên.
Nói một cách khác, rủi ro thanh khoản xảy ra khi NH không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền hoặc không thể vay mượn để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản vay nợ tức thời của mình. Khả năng thanh khoản thường được đo lường thông qua các chỉ tiêu như khả năng thanh khoản trên tổng tài sản có, khả năng chi trả trong 30 ngày, tỷ lệ dự trữ thanh khoản… 2.3 Khả năng sinh lời của ngân hàng: Mục tiêu chính của các ngân hàng là lợi nhuận. Do đó, khả năng sinh lời từ các của ngân hàng là nhân tố cực kỳ quan trọng để đánh giá HQHĐ và khả năng phát triển trong tương lai của một NHTM. Chỉ tiêu này thường được đo lường thông qua các chỉ tiêu như lợi nhuận sau thuế, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và thu nhập lãi cận biên….
Thông thường các nhà nghiên cứu có thể sử dụng các chỉ tiêu trên bằng cách so sánh giữa số liệu thực hiện và kế hoạch, so sánh với các NHTM khác trong ngành, theo dõi xu hướng qua các thời kỳ để nhận biết khả năng sinh lời trong tương của ngân hàng.4 Năng lực quản lý của ban lãnh đạo Theo nghiên cứu của Kauko (2009) về mối quan hệ giữa ban lãnh đạo và hiệu quả hoạt động thì năng lực quản lý và trình độ học vấn của ban lãnh đạo có ý nghĩa và tác động mạnh mẽ đến HQHĐ của ngân hàng. Ngoài ra, sự thay đổi ban lãnh đạo do về hưu hay chuyển đổi công tác sẽ gây ra sự xáo trộn trong điều hành ngân hàng, điều này sẽ tác động không tốt HQHĐ. Như vậy một ban lãnh đạo được đào tạo tốt, có năng lực quản lý, cơ cấu tổ chức ổn định sẽ tác động tích cực đến hiệu quả của ngân hàng.5 Năng lực về công nghệ Theo nghiên cứu của Manlagnit (2010) thì sự thay đổi trong công nghệ có tác động tích cực đến HQHĐ của các ngân hàng. Do đó, để gia tăng hiệu quả hoạt động đòi hỏi các ngân hàng cần đầu tư hơn nữa về công nghệ cụ thể như: hiện đại hóa hệ thống thanh toán, hệ thống thông tin điện tử, hệ thống báo cáo rủi ro, hệ thống thông tin quản lý…điều này góp phần làm đa dạng hóa dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, tăng cường khả năng dự báo rủi ro, hạn chế tổn thất, đạt được hiệu quả kinh doanh cao hơn.6 Nguồn nhân lực Theo nghiên cứu của Hasan and Marton (2003) thì chi phí hoạt động có tác động tiêu cực đến HQHĐ của NHTMCP, trong chi phí hoạt động thì chi phí cho nhân viên là thành phần chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Như vậy, chi phí cho nhân viên lớn sẽ tác động tiêu cực đến HQHĐ của NHTMCP. Tuy nhiên, vì nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng để ngân hàng hoạt động và phát triển nên các ngân hàng nên xem xét một cách cẩn trọng trong hoạch định trong cơ cấu nhân lực. Việc phát triển nguồn nhân lực phải đảm bảo đi kèm với việc phát triển hệ thống cũng như mục tiêu phát triển của ngân hàng.2 Các nhân tố bên ngoài Ngoài các yếu tố nội tại của ngân hàng, HQHĐ của các ngân hàng còn bị tác động bởi các yếu tố môi trường điển hình như các yếu tố về kinh tế vĩ mô và môi trường pháp lý.1 Tác động từ kinh tế vĩ mô Theo nghiên cứu của Ongore và các cộng sự (2013) và Masood và các cộng sự (2012) thì yếu tố như lạm phát, tăng trưởng GDP đều có tác động đến hiệu quả ngân hàng. Cụ thể: Bởi vì lạm phát tác động đến giá trị đồng tiền, sức mua của người dân và lãi suất thực nên theo các nghiên cứu trên thì yếu tố lạm phát có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Đối với tốc độ tăng trưởng GPD thì theo Ongore và các cộng sự (2013), tốc độ tăng trưởng GDP cao có tác động tích cực đến ROA và NIM bởi vì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao khuyến khích các ngân hàng cho vay nhiều hơn, người vay tiền sẵn sang đầu tư hơn do đó lợi nhuận cũng dần được nâng cao. Neely và Wheelock (1997) đã nghiên cứu tác động của thu nhập bình quân đầu người. Kết quả cho rằng thu nhập bình quân đầu người biến tạo ra một tác động tích cực đến thu nhập của ngân hàng, điều này tác động đến hiệu quả của cả ngân hàng.2 Môi trƣờng pháp lý Nghiên cứu của Pasiouras và các đồng sự (2009) cho thấy các quy định cho ngân hàng làm tăng kỷ luật thị trường và trao quyền cho giám sát của cơ quan có thẩm quyền. Điều này làm tăng cả hiệu quả chi phí và lợi nhuận của các ngân hàng.
Tuy nhiên, việc khắc khe trong đảm bảo nguồn vốn sẽ giúp nâng cao hiệu quả chi phí nhưng lại làm giảm hiệu quả của lợi nhuận. Tóm lại, môi trường pháp lý có tác động tích cực cũng như có thể tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động ngân hàng.3 Các phƣơng pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 2.1 Phƣơng pháp đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu tài chính Theo nghiên cứu của Ongore và các cộng sự (2013) và Masood và các cộng sự (2012) thì có rất nhiều các chỉ tiêu để tính toán hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, với mỗi mục đích nghiên cứu khác nhau mà các nhà nghiên cứu có cách thức lựa chọn và sử dụng các chỉ tiêu phù hợp nhất. Nhìn chung, trong các nghiên cứu trên thì các chỉ tiêu này thường được phân chia thành 03 nhóm 8 chính bao gồm: các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi, các chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh và các chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động của ngân hàng.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả trong việc tạo ra lợi nhuận của ngân hàng.
Có nhiều tỷ lệ để đánh giá tiêu chí này, tuy nhiên , theo Ongore và các cộng sự (2013) thì các tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) thường được sử dụng nhiều hơn cả. cụ thể: ROA cũng là tỷ lệ cho thấy khả năng sinh lợi của một ngân hàng. Tỷ lệ này đánh giá khả năng quản lý, sử dụng tài sản của ngân hàng để tạo ra thu nhập.