MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phát triển là một xu hướng tất yếu của xã hội. Các hoạt động phát triển ở mức vĩ mô, các hoạt động này là chính sách, các chiến lược, các chương trình và kế hoạch dài hạn về sự phát triển kinh tế xã hội. Ở mức vĩ mô là các dự án phát triển cụ thể và khai thác tài nguyên thiên nhiên, sản xuất hàng hóa, xây dựng cơ sở hạ cấp tầng, cung dịch vụ cần thiết cho con người (Trần Yêm, Trịnh Thị Thanh 1998).[9] Theo dự báo Việt Nam sẽ là một nước trong những nước có tốc độ phát triển nhanh trên thế giới với tốc độ tăng trưởng được dự báo là 7% trong thập kỷ tới.
Xã hội phát triển nhắm đáp ứng những nhu cầu và lợi ích của mọi người, song cũng dẫn tới vấn đề nan giải như gây ra ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng. Chất thải là vấn để nhức nhối đối với toàn xã hội, nhất là trong quá trình đô thị, công nghiệp hóa đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay. Ở các đô thị lớn của Việt Nam, chất thải đang gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Xử lý chất thải từ các nhà máy là vấn đề làm đau đầu các nhà quản lý môi trường.
Không riêng gì đối với những đô thị phát triển, việc chọn công nghệ xử lý chất thải như thế nào để đạt hiệu quả cao, không gây nên hậu quả xấu về môi trường trong tương lai và ít tốn kém chi phí luôn là nỗi bức xúc của các ngành chức năng. Chất thải là sự đồng hành tất yếu trong mọi hoạt đông kinh tế và phát triển. Trong điều kiện tiến bộ khoa học và công nghệ hiện nay và trong tầm nhìn dài hạn (vài thập kỷ tới), lượng chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng có xu hướng gia tăng cùng với sự gia tăng của sản xuất và tiêu dùng trong quá trình phát triển của xã hội. Sự gia tăng của chất thải đã, đang và vẫn tiếp tục là một tác nhân, nguyên nhân chính của tình trạng ô nhiễm môi n 2 trường và suy giảm chất lượng môi trường, đe dọa tính bền vững trong quá trình phát triển cả ở tầm vi mô (các nhà máy, xí nghiệp nhỏ).
Tác nhân, nguyên nhân này được kìm hãm và khắc phục đồng thời theo cả hai hướng: Một là bằng các công nghệ nhằm giảm thiểu, hạn chế lượng chất thải ra môi trường và hai là bằng các giải pháp quản lý đối với chất thải trong suốt quá trình phát sinh và vận động của chất thải. Xử lý chất thải rắn, chất thải sinh hoạt đang là vấn đề bức xúc đối với các địa phương trong cả nước, đặc biệt là ở các đô thị, khu công nghiệp. Trong bối cảnh chung của nước ta là đang trên đà phát triển. Thành phố Lạng Sơn cũng đang thực hiện nhiệm vụ chung của đất nước đã và đang phát triển mạnh mẽ.
Trong đó kinh tế chất thải đang trở thành nghành kinh tế trọng điểm trong việc góp phần và sự phát triển bền vững thì việc giải quyết chất thải bằng các quy trình xử lý hiệu quả là điều tất yếu. Nhà máy chế biến chì thỏi thuộc công ti cổ phần kim loại màu Bắc Bộ, công suất 10.000 tấn/năm nằm trong khu công nghiệp phía Tây Bắc Thành phố Lạng Sơn, cách Thành phố Lạng Sơn hơn 20km. Nhà máy sẽ góp phần tăng cường mật độ các nhà máy hình thành mội cụm khu công nghiệp lớn, giả quyết tốt vấn đề phân bố dân cư, biến một vùng đồi núi thưa thớt dân cư trở thành vùng công nghiệp sầm uất, tạo điều kiện cho người dân miền núi có thêm công ăn việc làm. Qua quá trình thực tế tình hình chất thải tại Nhà máy chì thỏi của Công ty kim loại màu Bắc Bộ và sự đồng ý của nhà trường, Bạn chủ nhiệm khoa Quản lý Tài Nguyên, cùng với sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông em tiến hành thực hiện đề tài : “Đánh giá hiện trạng môi trường nước thải, khí thải, chất thải rắn tại nhà máy lọc chì thỏi thôn An Tri –Xã Bình Trung –Huyện Cao Lộc –Tỉnh Lạng Sơn”.
Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của đề tài 1. Mục đích của đề tài - Đánh giá được quy trình xử lý chất thải của nhà máy. - Đánh giá mức độ phù hợp và hiệu quả của công nghệ xử lý chất thải của nhà máy. - Xác định những thuận lợi khó khăn trong quá trình xử lý chất thải tại nguồn.
Từ đó đề ra những phương hướng để nâng cao hiệu quả của quy trình xử lý chất thải của nhà máy. Yêu cầu của để tài - Theo dõi quy trình xử lý chất thải tại nhà máy - Kết quả đánh giá quy trình xử lý chất thải phải chính xác. Những kiến nghị ra phải phù hợp với thực trạng của nhà máy và thành phố. Ý nghĩa của đề tài - Trong học tập và trong nghiên cứu khoa học: Thấy được quy trình xử lý chất thải của nhà máy và có thể củng cố kiến thức đã học để áp dụng vào địa phương mình hoặc nơi mình làm việc.
- Trong thực tiễn: Trên cơ sở thu thập, đánh giá, phân tích, quy trình xử lý rác tại xí nghiệp qua đó biết được hiện trạng quy trình xử lý rác, từ đó đóng góp, đề xuất ý kiến để giải quyết hiện trạng trên. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của để tài nghiên cứu 2. Cơ sở lý luận Ngành công nghiệp luyện kim, nhất là luyện kim màu có một vai trò hết sức trọng yếu trong nền công nghiệp của một đất nước đang phát triển và phát triển.
Nó đóng góp hết sức quan trọng trong việc chủ động nguồn nguyên liệu trong nước, không phụ thuộc nước ngoài, không phụ thuộc vào việc nhập khẩu góp phần chống nhập siêu, tăng nhanh tổng sản phẩm xã hội, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động trong xã hội, làm cho nền công nghiệp phát triển cân đối, đồng đều, đa dạng hoá sản phẩm và phát triển vững chắc. Vì vậy, việc hình thành Nhà máy chế biến chì thỏi, công suất 10.000 tấn/năm nằm trong khu công nghiệp phía Tây Bắc Thành phố Lạng Sơn, cách Thành phố Lạng Sơn hơn 20km, là một vần đề cần thiết nhưng bên cạnh đó là nguồn thải từ nhà máy và các nguồn thải phát sinh trong gia đoạn sản xuất, nên có các biện pháp giảm thiểu, phòng ngừa., về vấn đề chất thải mà nhà máy tạo ra. Cơ sở thực tiễn Ngày nay chất thải từ sản xuất đang trở thành vấn đề lớn được các nhà quản lý môi trường của Việt Nam cũng như nước ngoài hết sức quan tâm. Thành phần chất thải nhà máy lọc chì của nhà máy đang là vấn đề nổi cộm và nhức nhối.
Số lượng ngày càng nhiều vì lượng sản xuất của nhà máy là 10.000 tấn/năm số lượng rất lớn khiến lượng chất thải tạo ra cũng rất lớn, với lương công nhân viên của nhà máy khá là nhiều, kèm theo nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình sản xuất cũng như trong sinh hoạt, có biện pháp sử lý và giảm thiểu nguồn gây ô nhiễm là một vấn đề cấp thiết đối với nhà máy nhằm n 5 đảm bảo sự phát triển của nhà máy và làm tổn hại môi trường ít nhất có thể. Cơ sở pháp lý Báo cáo xây dựng Nhà máy chế biến chì thỏi, công suất 10.000 tấn/năm được lập theo các căn cứ pháp luật hiện hành sau đây : - Luật Bảo vệ môi trường do Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006. - Luật Đất đai năm 2003 do Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004. - Luật Tài nguyên nước do Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 20 tháng 5 năm 1998 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1999.
- Nghi định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ quy định việc thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước. - Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVMT. - Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. - Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. n 6 - Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2003/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. - Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn. - Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24 tháng 1 năm 2005 của Chính phủ về quy hoạch xây dựng.
- Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng. - Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. - Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng cho mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích kinh tế, mục đích phát triển kinh tế để bồi thường đất, tài sản, hỗ trợ và bố trí tái định cư cho ngời bị thu hồi đất. - Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.
- Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24 tháng 6 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước.