Đặt vấn đề Nước là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên Trái đất và cần thiết cho các hoạt động kinh tế - xã hội của loài người. Ở đâu có nước, ở đó có sự sống. Tất cả chúng ta đều biết nước là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quí giá, con người, động, thực vật sẽ không thể tồn tại được nếu thiếu nước. Nước là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy nhiên trên Trái đất nước ngọt chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ.
Nước ngọt cần cho mọi sự sống và phát triển, nước giúp cho các tế bào sinh vật trao đổi chất, tham gia vào các phản ứng sinh hóa và tạo nên các tế bào mới. Vì vậy, có thể nói nước là cội nguồn của sự sống. Trong cơ thể sống nước chiếm tỷ lệ lớn, khoảng 70% trọng lượng cơ thể con người. Nước cung cấp cho cơ thể con người nhiều nguyên tố cần thiết.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh con người có thể nhịn ăn được nhiều ngày nhưng không thể nhịn uống quá 3 ngày trong điều kiện bình thường. Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kĩ thuật từ khi bắt đầu thời kì công nghiệp cho tới nay là sự gia tăng tất yếu các nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên nước thì lượng nước ô nhiễm sinh ra từ quá trình sản xuất và đời sống vào nguồn nước ngày càng nhiều, làm cho nhiều nguồn nước, nhiều dòng sông đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm, suy thái và cạn kiệt…Trên bề mặt địa cầu nước chiếm 75% diện tích, với một lượng khổng lồ 1,4 tỉ km3 (1400 triệu tỉ m3) tưởng có thể đủ cho con người dùng vô tận nhưng các vấn đề về nước, ô nhiễm, suy thoái, khủng hoảng nguồn nước đặt ra cho con người những câu hỏi cấp thiết để giải quyết thực trạng này. Để trả lời các câu hỏi này các nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam cần quan tâm hơn nữa trong việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước. Nước được sử dụng vào nhều mục đích khác nhau, nước được dung trong các họat động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường.
Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt, 97% nước trên Trái đất là nước muối, chỉ 3% còn lại là nước ngọt. Việc sử n 2 dụng không hợp lí nguồn nước ngọt ít ỏi này dẫn tới tình trạng thiếu nước sạch ngày càng trở nên trầm trọng. Hiện nay nước từ thiên nhiên là nguồn cung cấp nước chính, chủ yếu là nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm. Tuy nhiên nguồn nước từ tự nhiên có chất lượng khác nhau và phần lớn đang bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Dân số gia tăng, phát triển kinh tế và công tác quản lý tài nguyên nước chưa được thỏa đáng.
Con người sử dụng nước cho nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là dùng trong sinh hoạt. Việc cải thiện cấp nước sinh hoạt và điều kiện vệ sinh góp phần quan trọng vào việc giảm bớt gánh nặng về sức khỏe cho người dân. Là một sinh viên thuộc khoa Môi trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên em rất quan tâm đến vấn đề môi trường nước, đặc biệt là chất lượng nước sinh hoạt phục vụ cuộc sống. Xuất phát từ thực trạng chung của việc sử dụng nước sinh hoạt của người dân tại các vùng nông thôn, để đánh giá chất lượng nước đang sử dụng tại địa phương, tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm, qua đó đưa ra một số giải pháp để khắc phục những nguy cơ ô nhiễm, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch tại địa phương.
Được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường, dưới sự hướng dẫn của: Giảng viên - ThS. Nguyễn Ngọc Sơn Hải và PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt và đề xuất giải pháp quản lý, cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Yến Lạc, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”. Mục đích của đề tài - Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại thị trấn Yến Lạc, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. - Nắm được tình hình sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Yến Lạc, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
- Tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Yến Lạc, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. n 3 - Nghiên cứu chất lượng môi trường nước sinh hoạt nhằm mục đích cung cấp cho sử dụng từ đó đề xuất những giải pháp quản lý cũng như nâng cao chất lượng đối với nguồn nước sinh hoạt của địa phương. Yêu cầu của đề tài - Phản ánh đúng hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại thị trấn Yến Lạc, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. - Điều tra thu thập thông tin để xác định các nguồn, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt.
- Đảm bảo tài liệu, số liệu đầy đủ, trung thực, khách quan. - Kết quả phân tích các thông số về chất lượng nước phải chính xác. - Đảm bảo những đề nghị, kiến nghị đưa ra có tính khả thi, phù hợp với điều kiện của địa phương. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Vận dụng các kiến thức đã học trong nghiên cứu khoa học. - Nâng cao hiểu biết thêm về kiến thức thực tế. - Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đánh giá vấn đề thực tế và hiện trạng nước sinh hoạt.
- Cảnh báo vấn đề cấp bách và nguy cơ tiềm tàng về ô nhiễm suy thoái môi trường nước sinh hoạt. - Từ việc đánh giá hiện trạng, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân tại địa phương. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận Khái niệm môi trường.
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. [8] Khái niệm ô nhiễm môi trường. “Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường. [8] Nước và một số khái niệm có liên quan.
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường. Không có nước cuộc sống trên Trái đất không thể tồn tại được. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của đất nước, mặt khác nước có thể gây ra tai họa cho con người và môi trường. Nước có thể chia thành nhiều loại khác nhau, tùy theo đặc tính tự nhiên hay mục đích sử dụng của con người.
Căn cứ vào đặc tính lý hóa nước có thể chia thành: dạng lỏng (lỏng), dạng khí (hơi nước), dạng rắn (băng tuyết). Căn cứ vào nơi tồn tại, nước gồm: nước biển, nước hồ, nước ao… Căn cứ vào mục đích sử dụng thì có nước dùng cho sinh hoạt, sản xuất và nuôi trồng thủy sản, thủy điện… Dưới góc độ luật môi trường nguồn nước được hiểu là “một thành phần cơ bản của môi trường, là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự sống”. - Khái niệm nước mặt. Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền và hải đảo.
- Khái niệm nước ngầm. Nước ngầm là nguồn nước nằm ở dưới bề mặt lớp đất sỏi và trong những tầng địa chất thấm qua được. - Khái niệm nước sinh hoạt. Nước sinh hoạt là nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con người.
n 5 - Khái niệm về nước sạch. Nước sạch là nước đảm bảo các yêu cầu sau: + Nước trong không màu. + Không có mùi vị lạ, không có tạp chất. + Không chứa chất tan có hại.
+ Không có mầm mống gây bệnh. - Khái niệm ô nhiễm nguồn nước. Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước ngầm…bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật.
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bần nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật nuôi và các loài hoang dã” (Trần Yêm và cs, 1998). [12] Như vậy ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. - Khái niệm suy thoái và cạn kiệt nguồn nước. Suy thoái nguồn nước là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn nước so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được quan trắc trong các thời kỳ trước đó.
Các xu hướng chính thay đổi chất lượng nguồn nước ô nhiễm là: - Giảm độ pH của nước ngọt do ô nhiễm bởi H2SO4, HNO3 từ khí quyển, tăng hàm lượng SO2- và NO3- trong nước. - Tăng hàm lượng các ion Ca2+, Mg2+, SiO32 trong nước ngầm và nước sông do nước mưa hòa tan, phong hóa các quặng cacbonat. - Tăng hàm lượng các muối trong nước bề mặt và nước ngầm do chúng đi vào môi trường nước cùng nước thải, từ khí quyển và các chất thải rắn. n 6 - Tăng hàm lượng các chất hữu cơ, trước hết là các chất khó bị phân hủy bằng con đường sinh học (các chất hoạt động bề mặt và thuốc trừ sâu).
- Tăng hàm lượng ion kim loại có trong nước tự nhiên, trước hết là: Pb3+, Cd+, Hg2+, Zn2+, As2+, Fe2+, Fe3+,… - Giảm nồng độ oxy tự nhiên hòa tan trong nước tự nhiên do quá trình oxy hóa các hợp chất hữu trong điều kiện yếm khí. - Giảm độ trong của nước. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường, năm 2005. - Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/06/2005 của Bộ Tài Nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/07/2004 của Chính phủ Quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước.