Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Các khái niệm liên quan: - Môi trường: Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội xung quanh con người có tác động đến con người và ảnh hưởng với các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, đất, sinh vật và xã hội (Lưu Đức H, 2005). - Ô nhiễm môi trường: là sự biến đổi thành phần và tính chất của môi trường gây nguy hại đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật. Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường là do hoạt động của con người hoặc các quá trình tự nhiên (Luật BVMT, 2020).
- Ô nhiễm không khí: là sự có mặt của một thành phần lạ hoặc sự thay đổi đáng kể thành phần của không khí làm cho không khí bị bẩn hoặc gây ra mùi, mùi khó chịu, giảm tầm nhìn do bụi (Luật BVMT, 2020). - Nguồn gôc gây ô nhiễm môi trường không khí có thể chia thành: * Nguồn gốc tự nhiên Núi lửa phun trào: Núi lửa phun ra dung nham nóng và khói bụi giàu sunfua, mêtan và các khí khác. Không khí chứa nhiều bụi phát tán rất xa vì nó được phun lên rất cao. Cháy rừng: Các đám cháy rừng, thảo nguyên và đồng cỏ do các quá trình tự nhiên gây ra bởi sấm chớp, cọ sát giữa các thảm thực vật khô như tre và cỏ.
Các đám cháy này thường lan rộng, tỏa ra nhiều bụi và khí. Bão bụi gây ra bởi gió mạnh và bão, và mưa làm xói mòn nền sa mạc, đất canh tác và gió thổi tung thành bụi. Nước biển bốc hơi và cùng với sóng biển tung bọt, mang theo bụi muối và không khí lan truyền. Quá trình phân hủy các quần xác động, thực vật trong môi trường tự nhiên cũng thải ra nhiều khí gây nên hiện tượng ô nhiễm môi trường không khí.
5 Lượng chất ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên thường rất lớn, nhưng có phân bố tương đối đồng đều, các tác nhân không tập trung ở một khu vực nên con người, động thực vật cũng quen thuộc với nồng độ của các tác nhân này. * Nguồn gốc nhân tạo Nguồn gôc nhân tạo gây ô nhiễm môi trường không khí rất đa dạng, tuy nhiên tập trung chủ yếu là do hoạt động công nghiệp, đốt cháy nhiên liệu hóa thạch và hoạt động của các phương tiện giao thông. Các chất và tác nhân gây ô nhiễm không khi bao gồm: - Các loại oxit như: NO, NO2, SO2, CO, H2S và các loại khí halogen (clo, brom, iot). - Các hợp chất flo - Các chất tổng hợp (ete, benzene).
- Các chất lơ lửng (bụi rắn, bụi lỏng, bụi vi sinh vật), nitrat, sunfat, các phân tử cacbon, sol khí, muội, khói, sương mù, phấn hoa. - Các loại bụi nặng, bụi đất, đá, bụi kim loại như đồng, chì, sắt, kẽm, niken, thiếc, cadimi, … - Khí quang hóa như ozon, Fan, FB2N, NOx, anđehyt, etylen… - Chất phóng xạ - Nhiệt - Tiếng ồn Sáu tác nhân ô nhiễm đầu sinh ra chủ yếu do quá trình đốt cháy nhiên liệu và sản xuất công nghiệp. Các chất ô nhiễm trong không khí có thể được phân thành hai dạng: dạng khí và dạng phân tử nhỏ. Hầu hết các chất ô nhiễm đều có hại cho sức khỏe con người.
- Mô hình DPSIR: - DPSIR là ký hiệu các chữ đầu của năm từ Anh ngữ: - (D) Driving Forces, có nghĩa là lực điều khiển, động lực - (P) Pressure, có nghĩa là áp lực. 6 - (S) State, có nghĩa là tình trạng. - (I) Impact, có nghĩa là tác động. - (R) Response, có nghĩa là đáp ứng.
Mô hình DPSIR được đưa ra nhằm có cái nhìn tổng quan về tình trạng, môi trường tại một địa bàn, có thể là trên toàn cầu, tại một quốc gia, một tỉnh/Thành phố, hay một địa phương nhỏ hơn ta phải biết. - Động lực là khái quát các yếu tố đang tác động lên môi trường của địa bàn đang được xem xét. Ví dụ như sự gia tăng dân số, công nghiệp hóa, đô thị hóa, … - Áp lực lên các nhân tố môi trường. Ví dụ xả thải khí, nước đã bị ô nhiễm, chất thải rắn, chất thải độc hại vào môi trường.
- Tình trạng/hiện trạng tại một thời điểm hoặc thời gian nhất định. Ví dụ hiện trạng không khí, nước, đất, tài nguyên khoáng sản, đa dạng sinh học. trong 1 khoảng thời gian nhất dịnh - Tác động được đánh giá bao gồm tác động tiêu cực và tác động tích cực của tình trạng đó đến con người như điều kiện sinh sống, hoạt động sản xuất. của con người.
- Đáp ứng là các hành động của con người thực hiện nhằm khắc phục những tác động tiêu cực và phát huy những tác động tích cực nêu trên. Từ khái niệm trên trên ứng dụng mô hình phân tích tổng hợp DPSIR để đánh giá đánh giá thực trạng môi trường không khí Thành phố Thái Nguyên 1. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá 14, kỳ họp 10 thông qua ngày 17/11/2020. - Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ, Nghị định về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường.
7 - Nghị quyết số 24/NQ-TW của Ban chấp hành Trung Ương ngày 3/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lí tài nguyên và bảo vệ môi trường. - Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17 tháng 8 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ việc ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam); - Chỉ thị số 25-CT/TTg ngày 31/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường. - Quyết định số 25/2010/QĐ-UBND ngày 25/8/2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Thái Nguyên đến 2020; - Quyết định số 792/QĐ-UBND ngày 15/4/2016 của UBND tỉnh Thái Nguyên v/v phê duyệt mạng lưới quan trắc môi trường tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020 (mạng lưới quan trắc toàn tỉnh); - Quyết định 3583/QĐ-UBND ngày 23/12/2016 của UBND tỉnh Thái Nguyên v/v phê duyệt điều chỉnh, bổ sung một số nội dung của dự án mạng lưới quan trắc môi trường tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020. - Thông tư số 43/2015/TT-BTNMT ngày 29/09/2015 của Bộ Tài nguyên & Môi trường, Về Báo cáo hiện trạng môi trường, bộ chỉ thị môi trường và quản lý số liệu quan trắc môi trường.
- QCVN 05:2013/BTNMT - Của Bộ Tài nguyên & Môi trường, Quy định Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh; - QCVN 26:2010/BTNMT – Của Bộ Tài nguyên & Môi trường, Quy định về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn 1. Cơ sở thực tiễn 1. Lược sử hình thành và phát triển: Để đề xuất với Cơ quan Môi trường Châu Âu (EEA) về cách nên tiến hành xây dựng chiến lược Đánh giá Môi trường Tổng hợp, RIVM2 đã đề xuất việc sử 8 dụng một mô hình, trong đó phân biệt các vấn đề động lực, áp lực, trạng thái, tác động và phản ứng. Đây được gọi là mô hình DPSIR và từ đó đã được EEA áp dụng rộng rãi hơn, hoạt động như một cách tiếp cận tổng hợp để báo cáo.
Mô hình đưa ra một cấu trúc trong đó trình bày các chỉ số cần thiết để cung cấp phản hồi cho các nhà hoạch định chính sách về chất lượng môi trường và tác động kết quả của các lựa chọn chính trị được đưa ra hoặc sẽ được thực hiện trong tương lai. Theo mô hình DPSIR, có một chuỗi liên kết nhân quả bắt đầu từ 'D-động lực' (các ngành kinh tế, hoạt động của con người) thông qua 'P-áp lực' (khí thải, chất thải) đến 'S-trạng thái' (vật lý, hóa học và sinh học) và 'I-tác động' lên hệ sinh thái, sức khỏe con người và các chức năng, cuối cùng dẫn đến các 'R-phản ứng' chính trị (ưu tiên, thiết lập mục tiêu, chỉ số). Mô tả chuỗi nhân quả từ động lực đến tác động và phản ứng là một nhiệm vụ phức tạp và có xu hướng được chia nhỏ thành các nhiệm vụ phụ. Mô hình DPSIR được sử dụng trong các báo cáo của EEA (Peter Kristensen,2004).1: Mô hình DPSIR 9 Tổ chức EEA đồng thời khuyến nghị các quốc gia trên thế giới ứng dụng mô hình DPSIR trong đánh giá các chỉ tiêu về môi trường rộng rãi.
Công ước UNECE về Ô nhiễm không khí xuyên biên giới tầm xa (CLRTAP) là công ước quốc tế đầu tiên trên thế giới có đề cập đến các chiến lược giảm thiểu ô nhiễm không khí xuyên biên giới. Một số Nghị định thư CLRTAP đang có hiệu lực đối với các bên ở Châu Âu, bao gồm EU và các Quốc gia Thành viên. Các chất được đề cập và mức giảm cần thiết được liệt kê trong (Bảng 1. Nghị định thư lưu huỳnh lần thứ hai (UNECE, 1994) lần đầu tiên sử dụng cách tiếp cận nhằm đặt ra các mục tiêu phát thải để giảm sự vượt mức của các mức lắng đọng tới hạn đối với các hệ sinh thái ('thu hẹp khoảng cách').
Do đó, Nghị định thư này dẫn đến các cam kết quốc gia về giảm phát thải thay đổi tùy theo mức độ nhạy cảm của các hệ sinh thái (EEA, 2000) Vào tháng 5 năm 1999, Ủy ban Châu Âu đã trình bày đề xuất về Chỉ thị về mức trần phát thải quốc gia (NECD) (Ủy ban Châu Âu, 1999a) đối với các chất ô nhiễm tương tự như CLRTAP và lần đầu tiên đối với amoniac. Chỉ thị được đề xuất sử dụng cách tiếp cận tương tự như Nghị định thư lưu huỳnh thứ hai, nhưng mở rộng nó bao gồm việc giảm vượt quá các giá trị giới hạn tới hạn đối với ôzôn đối với sức khỏe con người và hệ sinh thái. Các mục tiêu này trong đề xuất của NECD, vẫn chưa được thông qua, khắt khe hơn nhiều so với các mục tiêu đã thống nhất hiện nay. Trong một quá trình song song, vào ngày 1 tháng 12 năm 1999, CLRTAP đã đồng ý về mức trần phát thải quốc gia đối với nhiều nước châu Âu (bao gồm cả các nước thành viên EU) trong một Nghị định thư đa chất ô nhiễm mới đối với bốn chất ô nhiễm giống như NECD.
Tuy nhiên, đối với một số Quốc gia Thành viên, các mục tiêu ít nghiêm ngặt hơn các mục tiêu trong Chỉ thị được đề xuất.