MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc. Cùng với sự phát triển đó, ngành công nghiệp điện lực đã trở thành một trong những ngành quan trọng nhất, quyết định đến sự phát triển và ổn định nền kinh tế và an ninh Quốc gia. Để đảm bảo cho nền kinh tế ngày càng đi lên một cách vững chắc, ngành điện phải đi trước một bước. Hệ thống điện ngày càng được chú trọng đầu tư xây dựng và hiện đại hoá, trong đó các thiết bị bảo vệ được đặc biệt quan tâm bởi các thiết bị này đóng vai trò cực kỳ quan trọng, nó đảm bảo cho các phần tử chính như máy phát điện, máy biến áp, đường dây tải điện, cáp ngầm, thanh góp, động cơ.và toàn bộ hệ thống điện vận hành an toàn, ổn định.
Các hệ thống thanh góp là những điểm nút trung chuyển công suất trên lưới điện. Đây cũng là nơi tập trung rất nhiều các ngăn lộ, có thể là máy phát, máy biến áp hay đường dây tải điện. Thanh góp được bố trí trong các nhà máy điện hoặc trạm biến áp nên xác suất sự cố ngắn mạch xảy ra trên thanh góp thường không lớn, tuy nhiên khi xảy ra ngắn mạch trên thanh góp mà không loại trừ kịp thời thì sự cố trở nên rất trầm trọng. Đối với những thanh góp tại các nhà máy điện lớn và các trạm truyền tải điện, khi xảy ra ngắn mạch nếu không loại trừ kịp thời nhiều trường hợp có thể gây sự cố lan truyền và tan rã lưới điện.
Các thiết bị bảo vệ nói chung và bảo vệ thanh góp nói riêng có nhiệm vụ phát hiện và loại trừ càng nhanh càng tốt phần tử bị sự cố ra khỏi lưới điện, ngăn chặn và hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất mà sự cố có thể gây nên. Để đảm bảo nhu cầu chất lượng điện năng ngày càng tăng của xã hội, việc đánh giá khả năng đáp ứng của các thiết bị trong hệ thống điện là rất cần thiết. Thông qua đề tài luận văn "Nghiên cứu đánh giá độ tin cậy của các phương thức bảo vệ thanh góp", tôi muốn đóng góp một phần nhỏ tìm tòi, nghiên cứu của mình thông qua việc tổng hợp các dạng sơ đồ và thiết bị bảo vệ thanh góp thường gặp trong hệ thống điện và đánh giá độ tin cậy của các phương thức bảo vệ một số sơ đồ thanh góp hiện đang được sử dụng trong lưới điện truyền tải Việt Nam. Qua luận 1 văn này, tôi muốn đưa ra một số nhận xét, đánh giá và kiến nghị đối với các sơ đồ thanh góp theo quan điểm bảo vệ.
Nội dung luận văn này gồm 5 chương: Chƣơng 1: Giới thiệu các loại sơ đồ thanh góp và sơ đồ phương thức bảo vệ thanh góp thường gặp ở nhà máy điện và trạm biến áp. Chƣơng 2: Độ tin cậy và các chỉ số đánh giá độ tin cậy. Chƣơng 3: Giới thiệu phương pháp cây sự cố trong đánh giá độ tin cậy của hệ thống bảo vệ rơle. Chƣơng 4: Xây dựng phương pháp cây sự cố đánh giá độ tin cậy các sơ đồ phương thức bảo vệ thanh góp và tính toán các chỉ số độ tin cậy.
Chƣơng 5: Kết luận và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai. Để hoàn thành luận văn này, bản thân tôi đã nỗ lực rất nhiều, tuy nhiên do hạn chế về mặt thời gian nên việc thu thập tài liệu, số liệu và thông tin chưa được nhiều nên bản luận văn này không tránh khỏi những khiếm khuyết. Tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và toàn thể bạn đọc. Trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn, tôi đã luôn nhận được sự động viên giúp đỡ rất nhiệt tình của các thầy cô giáo trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS.
Nguyễn Xuân Tùng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó! 2 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU CÁC LOẠI SƠ ĐỒ THANH GÓP VÀ SƠ ĐỒ PHƢƠNG THỨC BẢO VỆ THANH GÓP THƢỜNG GẶP Ở NHÀ MÁY ĐIỆN VÀ TRẠM BIẾN ÁP 1. Các loại sơ đồ thanh góp thường gặp ở nhà máy điện và trạm biến áp [5] Trong các nhà máy điện, trạm biến áp và trạm phân phối tuỳ thuộc vào vai trò, vị trí của nó trong hệ thống điện có thể sử dụng các loại sơ đồ thanh góp như sau: 1. Sơ đồ nối mỗi mạch với thanh góp qua một máy cắt 1.1 Sơ đồ một hệ thống thanh góp Sơ đồ một thanh góp là sơ đồ đơn giản nhất cả về cấu trúc, lắp đặt và thao tác vận hành.1 giới thiệu sơ đồ một thanh góp không phân đoạn.
Trong sơ đồ này, mỗi mạch được nối với thanh góp qua một máy cắt, dao cách ly được đặt ở hai đầu máy cắt để phục vụ cho việc sửa chữa, thay thế máy cắt.1: Sơ đồ một thanh góp không phân đoạn 3 Hình 1.2: Sơ đồ thanh góp được phân đoạn bằng 2 dao cách ly Dao cách ly chỉ đóng mở khi không có dòng điện nên rất an toàn khi thao tác. Thực vậy, khi sửa chữa một máy cắt nào đó thì thao tác đầu tiên là cắt máy cắt đó sau đó mở các dao cách ly và thao tác cuối cùng là là nối đất an toàn về phía hai đầu máy cắt. Nhược điểm của sơ đồ này là không đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện cho các phụ tải quan trọng vì: - Khi sửa chữa thanh góp hoặc dao cách ly đặt về phía thanh góp thì toàn bộ các mạch đều phải ngừng làm việc. - Ngắn mạch trên thanh góp cũng gây mất điện toàn bộ.
- Khi sửa chữa máy cắt hay dao cách ly của mạch nào thì các phụ tải của mạch đó phải mất điện trong suốt thời gian sửa chữa. Vì những nhược điểm trên, sơ đồ một thanh góp không phân đoạn thường không được dùng trong các nhà máy điện và trạm biến áp lớn và không đáp ứng được phần lớn các yêu cầu đối với các nút quan trọng của lưới điện. Sơ đồ này được sử dụng ở các trạm 110kV dùng cho các thiết bị công suất nhỏ phía trung áp cung cấp cho các phụ tải không quan trọng, nhất là khi chỉ có một nguồn cấp. Tuy nhiên sơ đồ một thanh góp có ưu điểm là đơn giản cả về cấu trúc và bảo vệ.
Để bảo vệ loại thanh góp này, thường kết hợp bảo vệ của các phần tử lân cận, thường 4 không cần đặt bảo vệ thanh góp riêng. Dùng sơ đồ này rẻ tiền và dễ vận hành, nên người ta tìm cách nâng cao độ tin cậy của sơ đồ bằng cách chia thanh góp thành các phân đoạn nhỏ.2 giới thiệu sơ đồ thanh góp được phân đoạn bằng 2 dao cách ly. Nhờ có dao cách ly phân đoạn mà khi sửa chữa một phân đoạn thanh góp hay dao cách ly phân đoạn của nó sẽ không dẫn đến mất điện toàn bộ ở các hộ tiêu thụ. Chỉ các phụ tải nào nối với phân đoạn sửa chữa thì mới bị mất điện.
Khi làm việc bình thường, các dao cách ly phân đoạn có thể ở trạng thái đóng hoặc mở. Khi phụ tải và nguồn phân bố thích hợp cho mỗi phân đoạn thì dao cách ly phân đoạn ở vị trí mở, vì như vậy khi sự cố trên phân đoạn nào thì chỉ các mạch nối với nó mất điện, các mạch khác vẫn làm việc bình thường. Nhưng khi phụ tải và nguồn ở các phân đoạn phân bố không đều thì tình trạng làm việc này có thể dẫn đến làm tăng tổn thất công suất trong mạng. Số phân đoạn phụ thuộc vào số lượng, công suất của nguồn và phụ tải.
Khi công suất của nguồn lớn, người ta thường phân đoạn thanh góp theo số nguồn. Dao cách ly phân đoạn sẽ đóng lại để cung cấp cho phụ tải của phân đoạn có nguồn không làm việc. Như vậy việc phân đoạn của thanh góp bằng dao cách ly tránh được tình trạng mất điện kéo dài của tất các hộ tiêu thụ cả khi tiến hành sửa chữa thanh góp. Nó có thể dùng để cung cấp điện cho phụ tải quan trọng khi được cung cấp bằng hai đường dây lấy từ hai phân đoạn khác nhau.
Sơ đồ một thanh góp có phân đoạn bằng dao cách ly có nhược điểm là nếu khi bình thường dao cách ly phân đoạn ở vị trí đóng thì sự cố xẩy ra trên một phân đoạn nào đó, toàn bộ phụ tải tạm thời mất điện cho đến khi tách được phân đoạn bị sự cố ra (mở dao cách ly phân đoạn) mới có thể khôi phục lại được sự làm việc của phân đoạn không sự cố. Ngay cả khi dao cách ly phân đoạn thường mở thì khi nguồn cấp của một phân đoạn bị hư hỏng, các phụ tải của phân đoạn này cũng tạm thời mất điện cho đến khi đóng được dao cách ly phân đoạn và máy cắt của từng mạch, thời gian mất điện sẽ lớn do thời gian thao tác lâu. 5 Để khắc phục được nhược điểm trên, người ta thực hiện phân đoạn thanh góp bằng máy cắt phân đoạn như Hình 1.3: Phân đoạn thanh góp bằng máy cắt phân đoạn Máy cắt phân đoạn có thể thường ở vị trí đóng hoặc mở khi làm việc bình thường. Nếu máy cắt phân đoạn thường đóng thì khi ngắn mạch ở phân đoạn lân cận, bảo vệ cắt nhanh đặt ở máy cắt phân đoạn sẽ tác động cắt máy cắt để duy trì sự làm việc bình thường của các phân đoạn còn lại, song như vậy sẽ làm tăng dòng điện ngắn mạch trong mạng.
Để giảm dòng ngắn mạch, trong các trạm trung và hạ áp, người ta để các máy cắt phân đoạn ở vị trí thường mở và đặt thêm thiết bị tự động đóng lại nguồn dự phòng. Nhờ đó, máy cắt phân đoạn sẽ tự động đóng lại khi nguồn cấp của các phân đoạn lân cận bị mất. Sơ đồ một thanh góp có máy cắt phân đoạn được dùng nhiều trong các nhà máy điện và trạm biến áp vì có cấu trúc và vận hành đơn giản, giá thành hạ và độ tin cậy tương đối cao do giảm được xác xuất mất điện của phụ tải khi sự cố và sửa chữa thanh góp (50% khi có hai phân đoạn). Sơ đồ có thể dùng để cung cấp điện cho các phụ tải quan trọng không cho phép mất điện bằng cách thực hiện các đường dây kép lấy từ hai phân đoạn khác nhau.
Sơ đồ này thường dùng khi số nguồn và số đường dây nối với mỗi phân đoạn không lớn.