CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ĐÁNH GIÁ ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA MỐC KHỐNG CHẾ CƠ SỞ 1.1 CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU VỀ ĐÁNH GIÁ ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA MỐC KHỐNG CHẾ CƠ SỞ Trận động đất ở California gây thiệt hại ước tính vượt quá 2 tỷ USD vào năm 2000 (Uỷ ban về Đo đạc và Ủy ban về Địa chấn học của Hoa Kỳ, 1981). Cũng trong khi đó, một thiệt hại tương tự gây ra do sự sụt lún mặt đất tại các khu vực khai thác than ở Mỹ [1].000 người đã thiệt mạng trong vụ tai nạn tại đập Vaiont ở Ý vào năm 1963 [1]. Ngày 26/3/2014, tập đoàn bảo hiểm Swiss Re của Thụy Điển công bố kết quả khảo sát cho thấy các thảm họa do thiên nhiên và con người gây ra khiến thế giới thiệt hại 140 tỷ USD trong năm 2013.
Theo nghiên cứu trên, tổng thiệt hại vì thảm họa trong năm 2013 đã giảm 196 tỷ USD so với năm 2012, thời gian bão Sandy tàn phá nước Mỹ (http://www.com/investors/ils/). Đập Malpasset cao 67m của Pháp vị vỡ năm 1959, đập Vajont cao 262m của Ý năm 1963 do bờ hồ trượt lở lớn gây ra sóng tràn qua đập, đập đất Tenton cao 93m của Mỹ năm 1976 bị nước lớn xói lở, hai đập lớn Bản Kiều và Thạch Mạn Than của Trung Quốc năm 1975 bị nước lụt làm vỡ [2]. Theo một số nghiên cứu mới đây (Trần Trọng Huệ và nnk, 2006; Nguyễn Trọng Yêm và nnk, 2006; Đào Văn Thịnh và nnk, 2003; Trần Tân Văn và nnk, 2002) [2]. thì có đến 70% huyện thị ở miền núi có tai biến địa chất mà chủ yếu là trượt lở đất đá và lũ quét.
Do đặc điểm đất dốc, núi cao, cùng hoạt động khai thác lãnh thổ không hợp lý, những năm gần đây miền núi phía Bắc xuất hiện rầm rộ các loại hình tai biến địa chất, như trượt lở đất đá, lũ quét - lũ bùn đá, sạt lở bờ sông. Trong số 135 huyện, thị của 14 tỉnh phía Bắc, tai biến đã xảy ra ở 98 huyện. Tai biến này diễn ra ngày càng phổ biến với quy mô ngày một lớn, làm mất đi hàng nghìn ha đất canh tác, phá hủy nhiều nhà cửa, làng mạc dọc theo một số con sông lớn. Theo bản đồ dự báo nguy cơ trượt lở và lũ quét, lũ bùn đá miền núi phía Bắc do Bộ Khoa học và Công nghệ cùng với các Bộ, Ban ngành liên quan thành lập, nguy cơ về trượt lở, lũ quét, lũ bùn đá tại khu vực miền núi phía Bắc bao gồm 5 cấp độ khác nhau, từ rất yếu đến rất mạnh.
6 Các kỹ sư trắc địa và các nhà khoa học đã đóng một vai trò quan trọng trong lĩnh vực đo đạc, khảo sát, quan trắc biến dạng các công trình xây dựng. Trong những năm 1940 và 1950, cơ sở lý luận về sự kiểm soát của các cấu kiện (ví dụ đập ngăn nước) được các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng công tác trắc địa là công cụ duy nhất để nghiên cứu (Giussani, 1981). Thậm chí ngày nay, các phương pháp trắc địa vẫn còn sử dụng rộng rãi để có được tình trạng biến dạng của toàn công trình xây dựng, mặc dù nhiều thiết bị chuyên dụng đã được phát triển để thu thập các thông tin cụ thể. Một vài năm trước, một báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ có viết: "Hầu như, tất cả mọi thứ chúng ta biết về bản chất của sự gia tăng tích tụ dẫn đến động đất ở miền Tây Hoa Kỳ, đến từ các nghiên cứu trắc địa đã bắt đầu vào cuối năm những năm 1800" (Whitten, A.
Monitoring Crustal Movement, Lecture Notes used in China). Đó là một kết luận được thực hiện bởi một tổ chức không thuộc lĩnh vực đo đạc và khảo sát, từ đó đề cao vai trò của những người làm việc trong lĩnh vực đo đạc quan trắc biến dạng. Các nghiên cứu về biến dạng, chuyển dịch của các điểm khống chế trắc địa, vùng lãnh thổ hay chuyển dịch địa động đã đạt nhiều tiến bộ khi thế giới bước sang thế kỷ 21 [11]. Đặc biệt, hiện tượng biến đổi khí hậu dẫn tới trượt lở đất đá, nước biển dâng cao khiến nhiều vùng đất bị ngập lụt và chuyển dịch, đòi hỏi hình thành và phát triển một hệ thống lý thuyết về phân tích biến dạng, tiến tới dự báo thảm hoạ thiên nhiên của Việt Nam là cấp bách.
Nghiên cứu biến dạng theo quan điểm về thời gian có thể được phân loại thành ba nhóm (Welsch, 1981) [3]. 1/ Mô hình tĩnh nhằm kiểm tra sự tồn tại hay không tồn tại của biến dạng trong khu vực địa phương; 2/ Mô hình động học không chỉ kiểm tra đặc điểm không gian của biến dạng mà thuộc tính thời gian cũng là mối quan tâm lớn; 3/ Mô hình động lực học nhằm chuyển đổi dữ liệu quan sát có dạng chuỗi thời gian, thành một giải tần số là nghiên cứu cơ bản. 7 So với các loại khảo sát khác, quan trắc biến dạng có những đặc điểm sau: - Yêu cầu độ chính xác cao hơn. Yêu cầu thiết kế lưới tối ưu theo độ nhạy đối với hướng cần kiểm tra biến dạng.
- Việc quan trắc được tiến hành theo các chu kỳ. Các chu kỳ có thể vài tuần hoặc hàng năm, cũng có thể tính theo giây trong mô hình quan trắc liên tục của kỹ thuật định vị vệ tinh (GNSS). Tần suất quan trắc cũng không đồng đều theo thời gian, đối với quá trình biến dạng nhanh thì cần tần suất lớn, khi quá trình biến dạng chậm dần và đi vào ổn định thì tần suất quan trắc có thể giảm. - Kết hợp các phương pháp khác nhau để tiến hành quan trắc.
Ở đây không chỉ là các phương pháp trắc địa mà còn có cả các thiết bị cơ học vật lý, ví dụ như thiết bị con lắc, thiết bị đo nghiêng, thiết bị đo áp suất, thiết bị laser, máy thủy chuẩn và những thiết bị khác để có được thông tin đầy đủ hơn. Phương pháp quan trắc ngày càng hoàn thiện. Tiến bộ nổi bật là việc sử dụng tổ hợp máy toàn đạc điện tử theo dõi tự động (RTS-Robotic Total Stations), nó có thể tự động quan trắc suốt ngày đêm trong một phạm vi nhất định. Thực nghiệm đã chứng minh tổ hợp này đạt tới độ chính xác quan trắc cỡ mm (Luca Manetti, 2008) [1] [4] [5].
Khiếm khuyết lớn nhất của phương pháp này là điểm đặt máy đo có thể nằm trong phạm vi của khu vực biến dạng. - Phân tích tỉ mỉ các dữ liệu thu được để tránh sự nhầm lẫn giữa sai lệch do đo đạc với một biến dạng hay sai lệch ở quy mô nhỏ với sai lệch ở quy mô tổng thể. - Yêu cầu cao hơn về kiến thức liên ngành để đưa ra được các kiến giải thích hợp. Kĩ sư trắc địa cần có một kiến thức tốt về thu thập dữ liệu cũng như kiến thức trong các chuyên ngành khác, ví dụ như địa vật lý, xây dựng.
để có thể phân tích xử lý thành công các kết quả quan trắc. Do đó đòi hỏi một sự hiểu biết đa chiều là một yêu cầu quan trọng. Một nỗ lực đáng kể đã được thực hiện trong những năm sau đó trong việc phát triển các phương pháp mới và thiết bị mới để đáp ứng các yêu cầu nêu trên.Nhiều phương pháp phân tích, đo đạc biến dạng đã được tiến hành nhiều hơn bao giờ hết. Năm 1978 Hội liên hiệp các nhà trắc địa thế giới (FIG) thành lập một ủy ban đặc 8 biệt về phân tích phép đo biến dạng bao gồm nhiều nhà khoa học nổi tiếng dưới sự chủ trì của Tiến sĩ Chrzanowski, để chuẩn bị hướng dẫn và đưa ra các thông số kỹ thuật cho quy trình tính toán liên quan tới các phép đo biến dạng.
Tại Hội nghị chuyên đề lần thứ 3 về đo biến dạng tổ chức tại Budapest, Hungary vào tháng 8 năm 1982 tổ chức đã được mở rộng từ năm trung tâm nghiên cứu ban đầu (Delft, Fredericton, Hannover, Karlsruhe và Munich) đến mười sáu trung tâm, bao gồm 40 nhà khoa học. Dự án nghiên cứu đã được thiết lập để: Tối ưu hóa và thiết kế mạng lưới quan trắc bằng các phương pháp trắc địa và không trắc địa; Đánh giá các dữ liệu quan trắc, phát hiện các giá trị ngoại lai và các sai số hệ thống; Phân tích đồ hình của biến dạng; Giải thích vật lý của biến dạng. Có nhiều phương pháp đánh giá độ ổn định của mốc cơ sở, thế giới hiện nay đang sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp phân tích tương quan (áp dụng cho khảo sát độ lún): Phương pháp này dựa trên phân tích quan hệ giữa các giá trị chênh cao của cùng một đoạn đo (giữa hai mốc khống chế trắc địa) ở các chu kỳ khác nhau để xác định sự ổn định của hệ thống mốc cơ sở, dùng làm gốc tính toán độ lún. Nội dung chủ yếu của phương pháp: tính chênh cao trung bình mỗi đoạn đo từ n chu kỳ (yêu cầu số chu kỳ đo được 𝑛 ≥ 8).
Tính độ lệch và độ lệch chuẩn của các chênh cao đo được trong các chu kỳ so với chênh cao trung bình. Tính hệ số tương quan, kiểm tra ý nghĩa thông qua phân tích phương sai các hệ số tương quan. - Phương pháp Kostekhel (Rumani) Tư tưởng cơ bản của phương pháp là: sau khi bình sai lưới tự do, sự thay đổi chênh cao của cùng một đoạn đo trong lưới ở các chu kỳ khác nhau chủ yếu do các mốc bị chuyển dịch, biến dạng gây nên. Trình tự thực hiện: lần lượt chọn các mốc cơ sở của lưới làm điểm gốc khởi tính độ cao (hoặc tọa độ với lưới mặt bằng), bình sai lưới tự do với số liệu gốc tối 9 thiểu (lưới tự do kinh điển), tính số hiệu chỉnh v cho tất cả các mốc và cho từng cặp hai chu kỳ.
Mốc khống chế trắc địa có tổng bình phương số hiệu chỉnh là nhỏ nhất ([𝑣𝑣 ] = 𝑚𝑖𝑛) được coi là ổn định, độ cao hoặc tọa độ của nó được coi là gốc ngay từ chu kỳ đầu đến chu kỳ đang xét. - Phương pháp Trernhikov (Nga) Nguyên tắc của phương pháp là độ cao trung bình (hoặc tọa độ mặt bằng trọng tâm) của nhóm mốc khống chế trắc địa trong lưới là không thay đổi theo thời gian. Cơ sở thực hiện là: Bình sai lưới tự do, tìm số hiệu chỉnh cho độ cao (hoặc tọa độ mặt bằng) của trọng tâm lưới tại chu kỳ đang xét sao cho sau khi hiệu chỉnh cho toàn thể các mốc, thì tổng bình phương độ lệch so với chu kỳ đầu là nhỏ nhất (trọng tâm lưới ổn định nhất sau khi hiệu chỉnh).