CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan làng nghề lương thực thực phẩm Việt Nam 1. Tình hình phát triển chung: Sự phát triển của làng nghề Việt Nam nói chung và làng nghề lương thực hực phẩm nói riêng đã thể hiện những cung bậc thăng trầm trong mỗi giai đoạn lịch sử, đặc biệt từ những năm đổi mới đến nay, dưới tác động của những biến đổi to lớn về kinh tế - chính trị - xã hội ở trong nước. Hiện nay, cả nước có trên 1.300 làng nghề được công nhận và 3.200 làng có nghề, thuộc 11 nhóm ngành nghề khác nhau.
Hoạt động sản xuất trong các làng nghề đã và đang có nhiều đóng góp vào ổn định đời sống người dân và phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm cho hơn 11 triệu lao động trong cả nước [21]. Sự phân bố và phát triển các làng nghề CBLTTP không đồng đều trong cả nước. Các làng nghề CBLTTP ở miền Bắc phát triển hơn ở miền Trung và miền Nam, chiếm gần 70% số lượng các làng nghề trong cả nước, trong đó tập trung nhiều nhất và mạnh nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng. Miền Trung có khoảng 111 làng nghề, còn lại ở miền Nam hơn 300 làng nghề [7].
Sự phân bố các làng nghề Việt Nam theo khu vực Bảng 1. Phân bố làng nghề CBLTTP trên cả nước [4] Số Số Số T T T Tỉnh lượn Tỉnh lượn Tỉnh lượn T T T g g g I Miền Bắc 145 II Miền Trung 42 III Miền Nam 10 TP Hồ Chí 1 TP Hà Nội 14 1 Thanh Hóa 19 1 3 Minh Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 4 Luận văn Thạc sĩ khoa học Đánh giá công nghệ xử lý nước thải làng nghề chế biến bún và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý – Trần Thị Hồng Gấm – Cao học KHMT K19 2 Vĩnh Phúc 3 2 Nghệ An 2 2 Ninh Thuận 1 3 Hà Tây cũ 34 3 Hà Tĩnh 1 3 Bình Dương 1 4 Bắc Ninh 15 4 Quảng Trị 6 4 Đồng Nai 1 Thừa Thiên 5 Hải Dương 8 5 2 5 An Giang 1 Huế 6 Hưng Yên 13 6 TP Đà Nẵng 4 6 Tiền Giang 1 7 Hà Nam 2 7 Quảng Nam 1 7 Bến Tre 2 8 Nam Định 21 8 Bình Định 5 9 Thái Bình 22 9 Khánh Hòa 2 10 Ninh Bình 11 11 Hà Giang 1 12 Hòa Bình 1 Tổng số (I+II+III)= 197 1. Tình hình ô nhiễm tại một số làng nghề chế biến lương thực thực phẩm Làng nghề Việt Nam được cảnh báo với 100% mẫu nước thải có thông số vượt tiêu chuẩn cho phép. Môi trường không khí bị ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu than củi.
Tỷ lệ người dân làng nghề mắc bệnh cao hơn các làng thuần nông, thường gặp ở các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, bệnh đường ruột, bệnh ngoài da. Nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng; nhiều ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khí từ làng nghề [4]. Vấn đề môi trường mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giới hạn ở trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến người dân ở vùng lân cận. Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề "Môi trường làng nghề Việt Nam", Hiện nay “hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô nhiễm môi trường (trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên liêu không gây ô nhiễm như thêu, may.
Chất lượng môi trường tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong đó 95% là từ bụi; 85,9% từ nhiệt và 59,6% từ hóa chất. Kết quả khảo sát 52 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 5 Luận văn Thạc sĩ khoa học Đánh giá công nghệ xử lý nước thải làng nghề chế biến bún và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý – Trần Thị Hồng Gấm – Cao học KHMT K19 làng nghề cho thấy, 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng ở cả 3 dạng; 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ”[18]. Vấn đề ô nhiễm nước: Ở Việt Nam, rất ít các làng nghề lương thực thực phẩm có hệ thống xử lý nước thải, nước thải được đổ trực tiếp ra hệ thống kênh rạch chung hoặc ra sông. Thường thì nước thải ra bị nhiễm màu nặng và gây ra hiện tượng đổi màu đối với dòng sông nhận nước thải, có mùi rất khó chịu.
Hơn nữa là sự vượt quá TCCP đối với các hàm lượng BOD, COD, SS, tổng Nito và coliform…[26] ở cả nước mặt và nước ngầm, làm chết các sinh vật thủy sinh và chứa các mầm bệnh nguy hại cho con người. Vấn đề ô nhiễm không khí: Các chất khí ô nhiễm chủ yếu gồm: H2S, CH4, NH3. Ngoài ra, các làng nghề chế biến lương thực thực phẩm cũng sử dụng một lượng không nhỏ các nhiên liệu chất đốt (chủ yếu là than, củi) cho các công đoạn đun, nấu các sản phẩm (mạch nha, tráng miến, bún…) thải vào không khí các chất như CO, CO2, SO2, NO2… Do khí thải được phát tán nên hầu hết các chỉ tiêu này tại các làng nghề đều thấp hơn tiêu chuẩn cho phép, song vẫn có ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân trong khu vực và các vùng lân cận [15]. Ô nhiễm chất thải rắn: Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động của chế biến lương thực thực phẩm chủ yếu là các đầu vỏ nguyên liệu đầu vào như vỏ sắn, đầu thừa củ dong,.
và xỉ than 1. Một số thách thức chủ yếu đối với các làng nghề LTTP hiện nay Sự phát triển làng nghề và các làng nghề truyền thống đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trong giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ nông thôn, góp phần giải quyết việc làm cho nhiều người lao động. Sản xuất tại các làng nghề đã tạo ra nhiều mặt hàng có giá trị kinh tế cao, có thương hiệu và vươn ra thị trường quốc tế. Tuy nhiên, các làng nghề hiện nay đang đứng trước nhiều khó khăn, nhiều làng nghề còn phát triển nhỏ lẻ, manh mún, công nghệ sản xuất thủ công, thiết bị cũ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 6 Luận văn Thạc sĩ khoa học Đánh giá công nghệ xử lý nước thải làng nghề chế biến bún và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý – Trần Thị Hồng Gấm – Cao học KHMT K19 lạc hậu.
Tại các làng nghề chưa có chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu nên sản phẩm của một số làng nghề truyền thống chưa có tính cạnh tranh trên thị trường, một số còn có nguy cơ bị nhái hàng gây ảnh hưởng đến giá trị kinh tế của sản phẩm. Một số khó khăn mà làng nghề gặp phải như: - Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chật hẹp, khó mở rộng và phát triển sản xuất. Làng nghề hầu hết nằm trong khu dân cư, nhiều hộ sản xuất tại nhà. Người lao động chủ yếu vẫn là người dân địa phương, một số ít là người có kinh nghiệm, có tuổi trong làng.
- Nội lực sản xuất còn thấp và các khâu bảo vệ môi trường, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm kém hiệu quả, dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, sức cạnh tranh yếu kém. Một số mặt hàng còn bị nhái dẫn đến cạnh tranh về giá thành, gây ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người lao động - Nhiều làng nghề hoạt động gây ô nhiễm môi trường, một số làng nghề có hệ thống xử lý ô nhiễm. Tuy nhiên xét về nhiều khía cạnh thì hoạt động phát triển làng nghề hiện đang làm gia tăng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, cả ở môi trường nước, rác thải sản xuất và ô nhiễm không khí - Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đối với khu kinh tế và làng nghề đã từng bước được xây dựng nhưng thường ban hành chậm, còn thiếu, chưa đồng bộ, có những quy định chồng chéo, khó triển khai thực hiện. Nhiều tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đã được ban hành nhưng chậm được áp dụng, tính khả thi thấp, nhất là đối với các làng nghề Đứng trước thực trạng đó, đòi hỏi cần có những chính sách phù hợp, nhằm tận dụng được những nguyên liệu đầu vào ưu thế của địa phương, nâng cao thu nhập cho người dân.
Đồng thời quan tâm đến việc xử lý ô nhiễm môi trường để đảm bảo cho sự phát triển lâu dài, hiệu quả. Tổng quan làng nghề chế biến bún 1. Quy mô sản xuất: Theo số liệu thống kê, không có số liệu riêng về các làng nghề chế biến bún mà làng nghề chế biến bún nằm trong nhóm ngành chế biến lương thực thực phẩm Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 7 Luận văn Thạc sĩ khoa học Đánh giá công nghệ xử lý nước thải làng nghề chế biến bún và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý – Trần Thị Hồng Gấm – Cao học KHMT K19 theo quy định tại Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về chính sách phát triển ngành nghề nông thôn. Quy trình chế biến bún Gạo Nước Ngâm Gạo Nước thải Nước Xay Bột Ủ chua (48h) Tách nước chua Nước thải Nước sôi Thấu bột Vắt bún và làm chín Nước thải Làm lạnh và vớt bún Nước thải Bún thành phẩm Hình 1.2 Sơ đồ công nghệ chế biến bún công nghệ cải tiến [4] Nguyên liệu và nguồn thải Bảng 1.