Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng tại ngân hàng chính sách xã hội. - Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội – Phòng giao dịch huyện Tam Đảo, Vĩnh Phúc - Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội – Phòng giao dịch huyện Tam Đảo, Vĩnh Phúc 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng theo pháp luật ngân hàng Việt Nam (Khoản 20 điều 4, Luật các tổ chức tín dụng 2010) ghi nhận rằng: “Tín dụng là quan hệ vay (mượn) dựa trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm giữa bên cho vay (mượn) và bên đi vay (mượn).
Theo đó, bên cho vay chuyển giao một lượng vốn tiền tệ (hoặc tài sản) để bên vay sử dụng có thời hạn. Khi đến hạn, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả vốn (tài sản) ban đầu và lãi suất”.Mối quan hệ tín dụng bao gồm 2 mặt cơ bản là quan hệ cho vay và quan hệ hoàn trả được thể hiện như sau: (1) Người vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, hàng hóa, máy móc, thiết bị, bất động sản… (2) Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định, khi hết thời gian sử dụng theo thỏa thuận người đi vay phải trả cho người cho vay. Thông thường, giá trị khi hoàn trả lớn hơn giá trị cho vay, nói cách khác người đi vay phải trả thêm một phần lợi tức.
Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp, các thể nhân khác trong nền kinh tế. Đối với các quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là giao dịch về tài sản trên cơ sở có sự hoàn trả giữa hai chủ thể. Phổ biến nhất là giao dịch giữa ngân hàng và các tổ chức, tài chính khác, giữa các doanh nghiệp và cá nhân thể hiện dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cung cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một khoảng thời hạn nhất định người đi vay phải thanh toán gốc và lãi. Từ những quan điểm trên, có thể hiểu tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay 11 mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội.
Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả 2 bên cùng có lợi. Khái niệm tín dụng ngân hàng chính sách xã hội Tín dụng chính sách là công cụ tài chính quan trọng, là hệ thống các biện pháp liên quan đến việc thực hiện các chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo, ổn định xã hội. Theo điều lệ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng CSXH thì ngân hàng CSXH được sử dụng nguồn tài chính do nhà nước huy động cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống, ổn định xã hội, hoàn thiện mô hình tổ chức.
Như vậy, tín dụng ngân hàng chính sách xã hội có thể được hiểu là các ngân hàng chính sách sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội. Sự khác biệt giữa tín dụng ngân hàng thƣơng mại và tín dụng ngân hàng chính sách xã hội Tín dụng ngân hàng thương mại và tín dụng ngân hàng chính sách xã hội khác nhau về mục tiêu, khách hàng, lãi suất cho vay, phương thức cho vay cũng như hạn mức cho vay theo quy định của pháp luật. Có thể tổng hợp một số đặc điểm khác nhau giữa tín dụng NHTM và NHCSXH như sau: Bảng 1. Điểm khác nhau giữa tín dụng NHTM và NHCSXH Điểm khác nhau Ngân hàng CSXH Ngân hàng thƣơng mại Mục tiêu Không vì lợi nhuận Vì lợi nhuận 12 Khách hàng Do chính phủ chỉ định Tự chọn, tự tìm kiếm Lãi suất Do chính phủ quy định Thị trường, ngân hàng quy định theo khuôn khổ pháp luật Phương thức cho vay Ủy thác + Trực tiếp Trực tiếp Mức cho vay Do hội đồng quản trị Tổng giám đốc ngân hàng ngân hàng quy định Địa điểm giao dịch Tại UBND, xã, phường, Tại trụ sở ngân hàng các thị trấn cấp (Nguồn: Tổng hợp tác giả) Xét về khía cạnh khách hàng: - Khách hàng của NHCSXH phần lớn là những đối tượng hầu như không đủ điều kiện để có thể tiếp cận được với vốn tín dụng thông thường của các NHTM với các tiêu chuẩn khắt khe về thủ tục, tài sản đảm bảo thế chấp….
Do đó khả năng sinh lời từ hoạt động cho vay những đối tượng khách hàng này của NHCSXH là rất thấp, thậm chí không thể có được. Chính vì lẽ đó, NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà mục tiêu hoạt động của nó là nhằm thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trong kế hoạch phát triển kinh tế của Nhà nước. - Trong khi đó, tín dụng ngân hàng thương mại phát ra phải phù hợp với mục đích sử dụng, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển hoặc đời sống của khách hàng với lãi suất, kỳ hạn hợp lý, hồ sơ thủ tục đơn giản, quy trình tín dụng ngắn gọn thu hút được khách hàng mà vẫn phải đảm bảo được nguyên tắc tín dụng theo quy định của pháp luật. Mặt khác, khách hàng sử dụng vốn vay thực hiện việc thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn thỏa thuận với ngân hàng.
Việc sử dụng vốn vay đó không những mang lại lợi nhuận cho khách hàng mà còn có ý nghĩa kinh tế - xã hội đối với đất nước Xét về khía cạnh ngân hàng: - Ngân hàng chính sách xã hội: Với chức năng mang nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ đến với các hộ nghèo, hộ chính sách, các món cho vay của NHCSXH rất 13 nhỏ lẻ, đối tượng thường ở vùng sâu, vùng xa. Về phương thức cho vay của NHCSXH thường sử dụng hình thức cho vay qua các tổ, nhóm người vay, sử dụng hình thức tín chấp cộng đồng. Hiện nay NHCSXH thực hiện ủy thác một số công đoạn cho vay cho các tổ chức chính trị - xã hội. Với thủ tục đơn giản, không phải thế chấp tài sản, người vay được nhận vốn vay, trả nợ trả lãi, gửi tiết kiệm ngay tại các điểm giao dịch xã.
- Ngân hàng thương mại: Khi cho vay ngân hàng thương mại phải thực hiện theo pháp lệnh của ngân hàng và các văn bản chế độ hiện hành của ngành. Xác định đối tượng cho vay và thẩm định khách hàng trước khi cho vay, nắm bắt thông tin, tìm hiểu tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính và mục đích sử dụng vốn vay, cơ sở hoàn trả món vay để đảm bảo món vay được hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn. Hạn chế tới mức thấp nhất khả năng rủi ro có thể xẩy ra, đây là nguyên tắc cơ bản nhất đối với ngân hàng. Trong thực tế, một số nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng, tính khả thi của dự án mà chỉ chú trọng đến cơ chế bảo đảm tiền vay.
Chính quan điểm này gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tín dụng. Đối tƣợng tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội Xuất phát từ đặc thù về khách hàng vay vốn tại ngân hàng CSXH thường là những đối tượng khách hàng dễ bị tổn thương, ở vùng sâu vùng xa, vùng kinh tế kém phát triển, ít có điều kiện tiếp cận với tín dụng ngân hàng nên hoạt động tín dụng ngân hàng CSXH cũng có những đặc thù riêng. Đối tượng tín dụng của ngân hàng CSXH bao gồm: Cho vay hộ nghèo: Ngân hàng CSXH cho vay hộ nghèo nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm, ổn định xã hội. Đối tượng vay là hộ nghèo, những hộ được xác định theo tiêu chuẩn nghèo của chính phủ theo từng thời kỳ.
Mức cho vay tối đa trên 1 hộ là 100 triệu đồng. Quy trình cho vay như sau: 14 Hình 1. Quy trình cho vay hộ nghèo (Nguồn: Ngân hàng CSXH Việt Nam) Nội dung các bước trong quy trình cho vay hộ nghèo như sau: (1) Khi có nhu cầu vay vốn, người vay viết Giấy đề nghị vay vốn, gửi cho Tổ TK&VV; (2) Tổ TK&VV cùng tổ chức chính trị - xã hội tổ chức họp để bình xét những hộ nghèo đủ điều kiện vay vốn, lập danh sách trình UBND cấp xã xác nhận là đối tượng được vay và cư trú hợp pháp tại xã. (3) Tổ TK&VV gửi hồ sơ đề nghị vay vốn tới ngân hàng.
(4) Ngân hàng phê duyệt cho vay và thông báo tới UBND cấp xã. (5) UBND cấp xã thông báo cho tổ chức chính trị - xã hội cấp xã. (6) Tổ chức chính trị - xã hội cấp xã thông báo cho Tổ TK&VV. (7) Tổ TK&VV thông báo cho tổ viên/hộ gia đình vay vốn biết danh sách hộ được vay, thời gian và địa điểm giải ngân.
Cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn: Để tạo điều kiện cho những học sinh, sinh viên nghèo có điều kiện học tập, Chính phủ có quyết định số 157/2007/QĐ-TTG về tín dụng đối với học sinh, sinh viên góp phần trang trải chi phí cho việc học tập, sinh hoạt của học sinh, sinh viên trong thời gian theo học tại trường bao gồm: tiền học phí; chi phí mua sắm sách vở, phương tiện học tập, chi phí ăn, ở, đi lại.