Chương 1: Cơ sở lý luận về thẩm định tín dụng chính sách và chất lượng thẩm định tín dụng chính sách tại các ngân hàng chính sách; Chương 2: Thực trạng chất lượng thẩm định tín dụng tại ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Chính sách xã hội – Chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH VÀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH TẠI CÁC NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH 1.1 Khái niệm, vai trò của tín dụng chính sách 1.1 Khái niệm về tín dụng chính sách Để phục vụ hoạt động quản lý và nghiên cứu, các nhà quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước và nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm về tín dụng. Tuy vậy, về mặt chung nhất tín dụng theo Nguyễn Thị Nguyệt Dung được hiểu: Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng vốn tạm thời từ người thừa vốn sang người thiếu vốn sử dụng một số tiền nhất định để sau một thời gian thu về lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu [4].
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, chủ thể tham gia quan hệ tín dụng một bên là tổ chức tín dụng và một bên là các chủ thể kinh tế. Việc cấp vốn này nhằm hỗ trợ các chủ thể kinh tế có được nguồn vốn bù đắp nhu cầu thiếu hụt vốn tạm thời để họ giải quyết được các vấn đề về tài chính phục vụ cho các mục đích nhất định. Với đặc thù của một số tổ chức tín dụng, tổ chức này sẽ cung ứng các khoản tín dụng ưu đãi hơn cho những đối tượng thuộc nhóm khách hàng có những điều kiện đặc biệt. Khoản tín dụng này được gọi là tín dụng chính sách.
Tại Việt Nam, trong Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tín dụng chính sách xã hội, tín dụng chính sách (hay tín dụng chính sách xã hội) được phát biểu: Tín dụng chính sách xã hội do NHCSXH thực hiện là một giải pháp cung ứng vốn để thực hiện các chủ trương, chính sách, các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề ra về giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị và phát triển kinh tế, xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa [1]. Tại trao đổi tại hội thảo “Cho vay theo chuỗi giá trị - Chính sách và thực trạng áp dụng” tổ chức Oxfam Việt Nam - một liên minh quốc tế gồm 20 tổ chức cùng phối hợp hoạt động hướng đến xóa đói giảm nghèo và đấu tranh cho bình đẳng – đã chỉ ra: Tín dụng chính sách xã hội là hình thức tín dụng đặc biệt dành cho 11 người nghèo và các đối tượng chính sách, là việc Nhà nước tổ chức huy động các nguồn lực tài chính để cho vay ưu đãi cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách nhằm tạo việc làm, cải thiện đời sống, hạn chế tình trạng đói, nghèo cho nhóm đối tượng này [14]. Tín dụng chính sách xã hội là một chuỗi các chương trình cho vay để phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống, đối tượng ưu tiên là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hộ sản xuất, kinh doanh vùng khó khăn, giải quyết việc làm. Từ những khái niệm trên có thể hiểu: Tín dụng chính sách là quan hệ chuyển nhượng vốn tạm thời từ chủ thể cho vay là tổ chức tín dụng cho các đối tượng chính sách nhằm tạo việc làm, cải thiện đời sống, hạn chế tình trạng đói, nghèo cho nhóm đối tượng này.2 Đặc điểm của tín dụng chính sách Với khái niệm về tín dụng chính sách như trên, tín dụng chính sách xã hội có những đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, đây là kênh tín dụng không vì mục tiêu lợi nhuận.
Mục tiêu của tín dụng chính sách xã hội là nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu xóa đói – giảm nghèo, ổn định kinh tế - chính trị và bảo đảm an sinh xã hội. Thứ hai, đối tượng vay vốn tín dụng chính sách xã hội là người nghèo và các đối tượng chính sách khác theo chỉ định của Chính phủ. Với mục tiêu của tín dụng chính sách nhằm cung ứng vốn để thực hiện xóa đói, giảm nghèo, công bằng xã hội. Do đó, Chính phủ xây dựng các chương trình cho vay đối với từng nhóm đối tượng cụ thể - được gọi là đối tượng chính sách.
Như vậy, chỉ những người thuộc diện người nghèo và đối tượng chính sách là đối tượng của các chương trình tín dụng mới là đối tượng được vay vốn. Thứ ba, nguồn vốn để cho vay chủ yếu là từ nguồn ngân sách Nhà nước. Các khoản cho đối tượng chính sách vay đều là những khoản cho vay cực kỳ ưu đãi về 12 lãi suất. Với đặc trưng lãi suất rất thấp và cho vay không vì mục tiêu lợi nhuận nên nguồn vốn không thể huy động bình thường như các ngân hàng thương mại mà nguồn vốn chủ yếu từ ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra còn có vốn được ủng hộ từ một số tổ chức phi chính phủ, cũng có thể là từ cá nhân hảo tâm. Thứ tư, các điều kiện cho vay là ưu đãi như về lãi suất cho vay, điều kiện vay vốn (ví dụ như hầu hết các chương trình cho vay không phải thế chấp tài sản), thủ tục cho vay…Để tạo điều kiện cho các đối tượng chính sách được tiếp cận với nguồn vốn nhằm thục hiện sản xuất kinh doanh hoặc cải thiện đời sống, vậy nên các sản phẩm tín dụng chính sách đều được nói lỏng về điều kiện cho vay vốn và áp dụng các điều kiện ưu đãi như vay tín chấp, lãi suất ưu đãi.3 Các loại hình tín dụng chính sách Với đặc thù của tín dụng chính sách, hiện nay, tín dụng chính sách được cung ứng bởi các ngân hàng chính sách (bao gồm NHCSXH Việt Nam và ngân hàng Phát triển Việt Nam) – là ngân hàng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Theo đó, tín dụng chính sách được cấp chủ yếu cho cá nhân và theo cách thức cấp tín dụng đó là cho va từng lần, do đó việc phân loại tín dụng chính sách chỉ dựa vào 2 tiêu chí đó là dựa vào đối tượng được cấp tín dụng chính sách và dựa vào thời hạn cấp tín dụng chính sách. Cụ thể như sau: 1.1 Dựa vào đối tượng được cấp tín dụng chính sách * Tín dụng hộ nghèo Đây là loại hình tín dụng được cấp cho đối tượng là hộ nghèo (theo quy định của Chính phủ) với mức cho vay tối đa được Chính phủ quy định trong từng thời điểm và không phải đảm bảo tiền vay.
Thời hạn cho vay được quy định căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay và thời hạn thu hồi vốn của chương trình, dự án có tính đến khả năng trả nợ của người vay. Về lãi suất cho vay ưu đãi do Thủ tướng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ theo đề nghị của Hội đồng quản trị NHCSXH thống nhất một mức trong phạm vi cả nước, trừ một số tổ chức kinh tế. * Tín dụng hộ cận nghèo Tín dụng đối với hộ cận nghèo được Chính phủ quy định ban hành Quyết 13 định số 15/2013/QĐ-TTg ngày 23/2/2013 về tín dụng đối với hộ cận nghèo: theo đó mức cho vay đối với hộ cận nghèo do NHCSXH và hộ cận nghèo thỏa thuận, nhưng không vượt quá mức cho vay tối đa phục vụ hộ sản xuất kinh doanh áp dụng đối với hộ nghèo trong từng thời kỳ. Lãi suất cho vay bằng 130% lãi suất cho vay đối với hộ nghèo quy định trong từng thời kỳ; lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay.
Thời hạn cho vay thỏa thuận với hộ cận nghèo phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng. Mỗi hộ có thể vay tối đa 30 triệu đồng. Điều kiện, hồ sơ, thủ tục và quy trình cho vay đối với hộ cận nghèo được thực hiện như đối với cho vay hộ nghèo. * Tín dụng hộ mới thoát nghèo Tín dụng hộ mới thoát nghèo là loại tín dụng được cấp theo quy định của Chính phủ đối với hộ mới thoát nghèo.
Thời hạn cho vay do ngân hàng cho vay và hộ vay thỏa thuận trên cơ sở sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng nhưng tối đa không quá 5 năm. * Tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là khoản tín dụng được cung ứng với mục tiêu nhằm tạo cơ chế tín dụng để thực hiện Chiến lược Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Hộ dân được vay vốn để đầu tư các loại dự án cấp nước sạch và các dự án vệ sinh môi trường nông thôn bảo đảm theo tiêu chuẩn quốc gia, gồm: hố xí hoặc hố xí kèm bể biogas, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm; xử lý nước thải, rác thải khu vực làng nghề nông thôn. * Cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm Đây là khoản cho vay nhằm hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động theo quy định của Chính phù.
Với hình thức cấp tín dụng này, mức cho vay tối đa đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh được nâng lên nhằm hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm. Người lao động cũng được nâng mức cho vay từ 50 triệu đồng lên 100 triệu đồng/người. Thời hạn cho vay cũng tăng lên 120 tháng đáp ứng được nhu cầu vay vốn để đầu tư vào các mục đích có thời gian thu hồi vốn dài trên 5 năm. * Tín dụng học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn 14 Tín dụng đối với học sinh sinh viên là khoản tín dụng được cấp cho đối tượng là học sinh, sinh viên với mục tiêu sử dụng nguồn lực của Nhà nước để cung cấp tín dụng ưu đãi cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm không để học sinh, sinh viên nào phải bỏ học vì khó khăn về kinh tế.
* Cho vay hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở Cho vay hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở là loại tín được thực hiện nhằm hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo khu vực nông thôn, đảm bảo có nhà ở an toàn, ổn định, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững.