CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG LÀ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái niệm tín dụng chính sách TDCS là hoạt động cấp tín dụng theo cơ chế được Chính phủ chỉ định, không vì lợi nhuận mà nhằm thực hiện các chính sách của Nhà nước cần thực hiện trong từng thời kỳ (Phạm Ngọc Dũng và Đinh Xuân Hạng, 2011). TDCS gồm hai loại: Thứ nhất, là cấp tín dụng đến các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các dự án lớn theo chỉ định của Chính phủ, thường có tính chất đặc thù như hoạt động trong khu vực kinh tế công, lĩnh vực công ích, có khả thi về tài chính nhưng tín dụng thương mại thông thường không đủ khả năng cung ứng.
Loại hình cho vay này tồn tại ở nhiều quốc gia trên thế giới nhằm duy trì các lợi ích quốc gia nhất định, được gọi là TDCS phát triển. Thứ hai, là cấp tín dụng để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, giảm thiểu đói nghèo, ổn định dân sinh và phát triển KT-XH các khu vực đặc biệt khó khăn, cần sự hỗ trợ của Nhà nước nhằm tiến tới phát triển đất nước toàn diện và bền vững. Đây được gọi là TDCSXH. Giới hạn nội dung nghiên cứu của đề tài là TDCSXH được Chính phủ quy định tại Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác: “TDCSXH là tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời 9 sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xóa đói giảm nghèo và ổn định xã hội.” Với định nghĩa trên, một số điểm cần chú ý như sau: Thứ nhất, TDCSXH do NHCSXH thực hiện không hoạt động vì lợi nhuận, mà nhằm hỗ trợ các đối tượng chính sách về nguồn vốn để họ phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng đời sống, ổn định an sinh xã hội.
Thứ hai, để đảm bảo TDCSXH duy trì được tính bền vững, nguyên tắc cấp TDCSXH phải đảm bảo vốn vay sử dụng đúng mục đích và hoàn trả đúng thời hạn. Thứ ba, đối tượng thụ hưởng TDCSXH được áp dụng nhiều ưu đãi về cơ chế, chính sách cho vay so với vay vốn tín dụng thương mại thông thường. Thứ tư, hoạt động triển khai TDCSXH cần được lồng ghép với hoạt động phát triển KT-XH khác tại địa phương như công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, đào tạo nghề, phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm,… nhằm tối ưu năng lực sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay cho người dân, từng bước vươn lên làm giàu, thoát nghèo bền vững. Khái niệm đồng bào dân tộc thiểu số Khái niệm DTTS được quy định tại Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ như sau: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” Theo kết quả Tổng điều tra dân số toàn quốc năm 2019 do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện, đến 0 giờ ngày 1/4/2019 Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số với tỷ trọng trên 85%, các dân tộc còn lại chiếm gần 15%.
Như vậy, đồng bào DTTS là cách gọi đối với những người thuộc vùng DTTS của Việt Nam. Việt Nam có một cơ quan ngang bộ phụ trách các vấn đề về DTTS đó là Uỷ ban Dân tộc của Quốc Hội. Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, 10 chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong nhiều năm qua, Chính phủ và cơ quan chuyên trách, các cấp, các ngành, chính quyền địa phương đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích cho nhóm DTTS, thực thi nhiều chính sách thúc đẩy phát triển khu vực DTTS&MN toàn diện trên các lĩnh vực và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đặc điểm của tín dụng chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số 1.
Đặc điểm của tín dụng chính sách nói chung - Tổ chức tín dụng triển khai TDCS do Nhà nước thành lập, đối tượng thụ hưởng TDCS do Nhà nước chỉ định theo từng chương trình. - TDCS hoạt động phi lợi nhuận nhằm triển khai các chính sách ưu đãi về tín dụng của Chính phủ đến các đối tượng đặc thù được chỉ định để tạo sinh kế, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và ổn định dân sinh. - Nguồn vốn thực hiện TDCS được cân đối từ Ngân sách nhà nước hoặc do Nhà nước huy động. - Các quy định cụ thể về cơ chế, chính sách cho vay TDCS do Chính phủ hoặc đơn vị được Chính phủ.
ủy quyền quyết định. - Phương thức vay vốn đa dạng: ngân hàng có thể cho khách hàng vay trực tiếp tại ngân hàng, hoặc cho vay thông qua các tổ chức CT-XH theo phương thức ủy thác. Đặc điểm của tín dụng chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Ngoài những đặc điểm của TDCS nói chung, TDCS đối với đồng bào DTTS có một số đặc điểm riêng có sau: - Khu vực đồng bào DTTS&MN còn nhiều khó khăn, bất cập về nhiều mặt trong đời sống như dân trí, kinh tế, giáo dục, y tế… Do đó, TDCS khi triển khai đến đồng bào DTTS cần phải đi đúng trọng tâm, tập trung tháo gỡ những bất cập đó, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, giảm dần chênh lệch trong phát triển giữa vùng DTTS&MN so với cả nước.
11 - Cấp tín dụng với ưu đãi lãi suất lớn nhất cho hộ nghèo DTTS vùng đặc biệt khó khăn. Vai trò của tín dụng chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số Thứ nhất: TDCS giúp đồng bào DTTS được tiếp cận dễ dàng, không. cần các điều kiện ràng buộc về vật chất. Đồng bào DTTS nói riêng thường sống ở những địa bàn xa xôi, cách trở, hạn chế cả về năng lực kinh tế và năng lực giao tiếp, rất khó để được tiếp cận với tín dụng thương mại.
Với TDCS, đồng bào DTTS có thể được cấp vốn mà không cần các ràng buộc về tài sản, chỉ cần là thành viên tổ TK&VV, đúng đối tượng Chính phủ chỉ định và thực hiện đúng những cam kết của tổ. Thứ hai: Hỗ trợ đồng bào DTTS có vốn làm ăn ổn định góp phần định cạnh định cư, hạn chế phá rừng làm nương rẫy. Tình trạng du canh, du cư vốn là vấn đề nhức nhối của đồng bào DTTS ở Việt Nam, đặc biệt là khu vực biên giới Tây Bắc, Tây Nguyên. Khi nương, rẫy ở gần không còn khả năng nuôi sống cho gia đình họ, buộc họ phải di cư vào những nương rẫy xa hơn và tiếp tục phá rừng để sinh kế.
Khi được vay vốn TDCS, họ có vốn, được hướng dẫn cách làm ăn, bản thân họ tự thay đổi phương thức sản xuất, đa dạng ngành nghề, để có thu nhập, hạn chế du canh, du cư, phá rừng làm nương rẫy. Thứ ba: TDCS tạo thêm việc làm tại địa phương, giảm thất nghiệp (thất nghiệp tạm thời) đối với lao động thiểu số. Do tập tục lạc hậu, hộ gia đình DTTS thường sinh nhiều con, lực lượng lao động khá lớn, trong khi rất thiếu việc làm, do thiếu đất đai canh tác. Việc vay vốn TDCS giúp phát triển thêm các ngành nghề, tận dụng lao động nhàn rỗi của các hộ gia đình DTTS.
Thứ tư: TDCS giúp nâng cao năng lực đối với đồng bào DTTS. Hầu hết đồng bào thường sinh sống ở địa bàn xa xôi, cách trở, hạn chế trong tiếp cận với những tiến bộ xã hội do sự cách biệt về địa lý, giao thông và điều kiện kinh tế, không có được những phương tiện như đài, ti vi cũng như sách báo. 12 Cũng xuất phát từ những khó khăn đó nên con em của họ ít được học hành, trình độ học vấn hạn chế, ít tiếp xúc với xã hội bên ngoài nên năng lực hạn chế. Khi TDCS được triển khai, người dân không chỉ được hỗ trợ về nguồn vốn, mà còn được tiếp xúc thường xuyên với cán bộ tổ chức CT-XH, cán bộ ngân hàng, được tuyên truyền hướng dẫn tổ chức làm ăn, tiếp cận công tác khuyến nông, khuyến lâm, được giao dịch hằng tháng tại điểm giao dịch xã, qua đó năng lực của họ được nâng lên, tự tin hơn, giao tiếp nhiều hơn.
Thứ năm: TDCS góp phần cải thiện cả về kinh tế, xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng nhất là những nơi nhạy cảm về chính trị. Đồng bào DTTS rất thật thà, dễ bị các đối tượng xấu lôi kéo. Từ chỗ khó khăn về kinh tế, những đối tượng xấu dễ dàng lợi dụng họ bằng những lợi ích vật chất nhỏ, nhất là những đồng bào DTTS ở các vùng biên giới. TDCS của Chính phủ đã giúp bà con vươn lên trong cuộc sống, bà con càng có niềm tin vào Đảng và Nhà nước, không bị các thế lực xấu lôi kéo.
Thứ sáu: việc tiếp cận vốn TDCS giúp đồng bào DTTS hạn chế vay nặng lãi, một vấn nạn vốn tồn tại rất phổ biến ở khu vực nông thôn. Điều này góp phần hạn chế các hệ lụy tiêu cực phát sinh từ áp lực trả lãi quá cao cho đồng bào DTTS, giúp họ có nguồn vốn bền vững cho hoạt động sinh sống và phát triển đời sống. Thứ bảy: TDCS bổ sung thêm một kênh cấp tín dụng chính thức cho thị trường tài chính vốn rất hạn chế ở khu vực nông thôn, khu vực đồng bào DTTS&MN. HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO.
DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Quan điểm về hiệu quả của tín dụng chính sách Khi xem xét hiệu quả tín dụng ngân hàng nói chung, cần đánh giá toàn diện tác động đối với 3 chủ thể bao gồm tổ chức cấp tín dụng, người vay và KT-XH. 13 - Đối với tổ chức cấp tín dụng: hiệu quả thể hiện ở một số tiêu chí như. lợi ích kinh tế mang lại, đảm bảo an toàn vốn, nguyên tắc tín dụng, hạn chế rủi ro, đảm bảo hoạt động an toàn, liên tục và cạnh tranh.
- Đối với khách hàng vay vốn: hiệu quả thể hiện ở việc vốn vay đáp .