Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tài nguyên nước giữ vai trò thiết yếu đối với sự sống, là yếu tố quyết định sự ổn định và phát triển bền vững trong các chiến lược, quy hoạch kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh môi trường. Tuy nhiên, trước sức ép gia tăng dân số, đô thị hóa và hoạt động sản xuất công nghiệp, tài nguyên nước tại nhiều địa phương đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt cục bộ.

Xã Đồng Bẩm, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên là địa bàn nông thôn nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc thành phố Thái Nguyên, tiếp giáp sông Cầu và có trục Quốc lộ 1B chạy qua. Trong giai đoạn 2014–2018, khu vực này trải qua quá trình đô thị hóa mạnh mẽ với sự hình thành của nhiều dự án xây dựng hạ tầng, khu dân cư và giáo dục như Trường Đại học Việt Bắc, khu nhà ở Đồng Bẩm HUDS, khu đô thị Picenza. Sự gia tăng mật độ dân cư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế làm nhu cầu khai thác, sử dụng nước cho ăn uống, sinh hoạt tăng nhanh. Trong khi đó, hệ thống hạ tầng cấp thoát nước tập trung và mạng lưới xử lý rác thải, nước thải sinh hoạt chưa được đầu tư đồng bộ, tiềm ẩn nguy cơ suy giảm chất lượng các tầng chứa nước dưới đất. Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn này, khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Địa chính môi trường của tác giả Đỗ Thu Hà tập trung khảo sát thực địa nhằm làm rõ hiện trạng sử dụng và chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu chung: Điều tra, đánh giá chất lượng nước sinh hoạt; nắm bắt hiện trạng môi trường nước, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường nước tại xã Đồng Bẩm, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá chất lượng nguồn nước, từ đó có những đề xuất cải thiện các giải pháp cấp nước sạch đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường cho người dân tại địa bàn xã Đồng Bẩm.
    2. Bảo đảm nguồn nước của xã luôn sạch, bảo đảm sức khỏe và vệ sinh môi trường bền vững.
    3. Tìm hiểu các tác động của điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã Đồng Bẩm đến môi trường nước.
    4. Nắm được chất lượng môi trường nước xã Đồng Bẩm; đề xuất các biện pháp quản lý và bảo vệ môi trường nước.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng môi trường nước sinh hoạt (chủ yếu là nước ngầm tầng nông từ giếng khoan và giếng đào) trên địa bàn nghiên cứu.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính xã Đồng Bẩm, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (tập trung khảo sát tại các xóm: Tân Hương, Đồng Tâm, Văn Thánh, Ao Voi và Nhị Hòa).
  • Thời gian và địa điểm thực hiện: Khóa luận được thực hiện từ ngày 14/8/2017 đến ngày 30/11/2017; phối hợp thực nghiệm tại Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Thái Nguyên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống văn bản pháp quy, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quản lý môi trường và tài nguyên nước của Việt Nam, kết hợp cùng các phương pháp điều tra xã hội học và phân tích hóa lý thực nghiệm trong phòng thí nghiệm.

Hệ thống cơ sở pháp lý và quy chuẩn viện dẫn trong khóa luận gồm:

  • Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005); Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
  • Luật Tài nguyên nước năm 2005 (thông qua ngày 29/11/2005); Nghị định số 162/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 của Chính phủ ban hành quy chế thu thập, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước.
  • Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.
  • Quyết định số 51/2008/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về ban hành bộ chỉ số theo dõi và đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
  • Các quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật: QCVN 08:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt); QCVN 09:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm); QCVN 24:2009/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp); QCVN 01:2009/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống); QCVN 02:2009/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt); cùng các tiêu chuẩn TCVN 5942-1995, TCVN 5945-2005, TCVS 505-BYT/QĐ1992.

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa khoa học về môi trường, chức năng cơ bản của môi trường sinh thái, ô nhiễm nguồn nước, phân loại tài nguyên nước (nước mặt, nước dưới đất, nước khí quyển), đặc điểm thủy lực và thủy văn của nước ngầm tầng mặt và tầng sâu. Tác giả đồng thời làm rõ ý nghĩa của các thông số phân tích môi trường nước bao gồm: độ pH, oxy hòa tan (DO), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), nhu cầu oxy hóa học (COD), độ cứng tổng số, chất rắn lơ lửng (TSS) và các hợp chất nitơ vô cơ (NO2-, NH4+).

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể đã triển khai:

  • Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu lưu trữ từ UBND xã Đồng Bẩm và Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Thái Nguyên về quy hoạch sử dụng đất, điều kiện tự nhiên, cơ cấu kinh tế - xã hội, hạ tầng kỹ thuật và công tác quản lý tài nguyên nước địa phương.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp 60 hộ gia đình tại 4 xóm đại diện (Tân Hương, Đồng Tâm, Văn Thánh, Ao Voi) nhằm ghi nhận cơ cấu nguồn nước sử dụng, nhận thức về ô nhiễm, cảm quan mùi vị, tình trạng thiết bị lọc và biến động nguồn nước theo mùa.
  • Phương pháp lấy mẫu thực địa: Thực hiện ngày 30/10/2017 theo TCVN 6663-6:2008 (ISO 5667-6:2005) và TCVN 6663-11:2011 (ISO 5667-11:2009). Tác giả lấy ngẫu nhiên 5 mẫu nước ngầm tại các hộ gia đình:
    • Mẫu NN1: Giếng đào nhà ông Trần Quang Biểu (xóm Văn Thánh).
    • Mẫu NN2: Giếng đào nhà bà Nguyễn Thị Xuân (xóm Ao Voi).
    • Mẫu NN3: Giếng khoan nhà ông Phạm Thế Sự (xóm Tân Hương).
    • Mẫu NN4: Giếng khoan nhà ông Trịnh Văn Hàn (xóm Đồng Tâm).
    • Mẫu NN5: Giếng đào nhà ông Nông Viết Cam (xóm Nhị Hòa).
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm: Các chỉ tiêu được phân tích theo quy trình chuẩn tại Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Thái Nguyên:
    • pH và DO: Sử dụng máy đo chất lượng nước đa chỉ tiêu.
    • COD: Phương pháp oxy hóa chuẩn độ bằng pemanganat (KMnO4).
    • BOD5: Phương pháp cấy vi sinh và pha loãng.
    • Độ cứng: Phương pháp chuẩn độ tạo phức với EDTA.
    • Sắt (Fe): Phương pháp so màu quang phổ trên máy trắc quang UV-VIS.
  • Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu: So sánh dữ liệu phân tích hóa lý với giới hạn cho phép trong QCVN 01:2009/BYT; phân loại và xử lý toán thống kê, tỷ lệ phần trăm số liệu phỏng vấn trên phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Văn bản khóa luận được tổ chức kết cấu thành 4 phần nội dung chính cùng mục Kết luận và kiến nghị:

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh tài nguyên nước bị đe dọa bởi phát triển kinh tế nhanh và ô nhiễm chất thải. Tác giả nêu bật vị trí địa lý của xã Đồng Bẩm – khu vực ven đô thị đang mở rộng với mật độ dân cư tăng cao của tỉnh Thái Nguyên, xác lập hệ thống mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn và các yêu cầu kỹ thuật cần đạt được của khóa luận tốt nghiệp.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết cơ sở pháp lý và khoa học về bảo vệ tài nguyên nước. Tác giả phân tích bức tranh hiện trạng ô nhiễm nước trên phạm vi toàn cầu, tại Việt Nam và tại tỉnh Thái Nguyên:

  • Trên thế giới: Trích dẫn báo cáo của Viện Nước quốc tế Xtốc-khôm (SIWI), WB và UNICEF về tình trạng thiếu nước sạch, ô nhiễm thạch tín (Asen) và Flo tại Đông Nam Á đe dọa 50 triệu người, cùng nguy cơ tử vong do dịch bệnh liên quan đến nguồn nước.
  • Tại Việt Nam: Khoảng 17,2 triệu người (21,5% dân số) sử dụng nước giếng khoan chưa kiểm định; mỗi năm có 9.000 ca tử vong và 200.000 ca ung thư mới phát hiện có liên quan mật thiết đến môi trường nước ô nhiễm. Nước thải sinh hoạt chiếm trên 30% lượng xả thải trực tiếp vào lưu vực sông hồ cả nước.
  • Tại Thái Nguyên: Tỉnh nằm trong lưu vực sông Cầu, tiếp nhận khoảng 3,54 tỷ m3 nước mặt mỗi năm. Báo cáo quan trắc 49 điểm (trong đó có 27 điểm suối đổ vào sông Cầu) năm 2011 và báo cáo quản lý môi trường năm 2014 cho thấy nguồn nước đã bị ô nhiễm chất hữu cơ, TSS và vi sinh vật. Hàng năm lưu vực tiếp nhận khoảng 50 triệu m3 nước thải, trong đó: nước thải công nghiệp luyện kim của Nhà máy Gang thép Thái Nguyên và KCN Sông Công phát sinh trên 6 triệu m3/năm; khai thác khoáng sản trên 12 triệu m3/năm (Pb, Zn, As, Cd vượt từ 3,5 đến 20 lần); sinh hoạt phát sinh trên 33 triệu m3/năm; y tế phát sinh khoảng 830.000 m3/năm; hoạt động nông nghiệp có trên 90% trang trại chăn nuôi chưa có báo cáo ĐTM hay hệ thống xử lý nước thải.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả xác định đối tượng là hiện trạng môi trường nước xã Đồng Bẩm; phạm vi thời gian từ 14/8/2017 đến 30/11/2017. Nội dung nghiên cứu tập trung vào: đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội; điều tra hiện trạng cấp nước và phỏng vấn 60 hộ gia đình; lấy 5 mẫu nước ngầm (NN1 đến NN5) phân tích các chỉ tiêu pH, DO, COD, BOD5, độ cứng, TSS, NO2-, NH4+, Fe; tính toán tải lượng ô nhiễm phát sinh và đề xuất biện pháp xử lý.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương kết quả thể hiện toàn bộ số liệu điều tra thực địa và kết quả thử nghiệm trong phòng phân tích:

  • Điều kiện tự nhiên và đất đai: Xã Đồng Bẩm có diện tích tự nhiên 402,28 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 211,67 ha (52,65%), đất phi nông nghiệp 186,75 ha (46,42%), đất chưa sử dụng 3,86 ha (0,96%). Địa hình dốc theo hướng Bắc - Nam, ven sông Cầu và suối Linh Nham. Nhiệt độ trung bình 25°C, tổng giờ nắng 1.300–1.750 giờ/năm, lượng mưa 2.000–2.500 mm/năm (tập trung tháng 5 đến tháng 10), độ ẩm không khí trung bình 87,58%.
  • Kinh tế - xã hội: Dân số năm 2017 đạt 6.757 người (tỷ lệ tăng tự nhiên 1,1%), chia làm 10 xóm. Tỷ trọng nông nghiệp đang giảm dần, thu nhập từ trồng trọt đạt 17 tỷ đồng, chăn nuôi đạt 13 tỷ đồng, tiểu thủ công nghiệp đạt 17 tỷ đồng, thương mại - dịch vụ đạt 87 tỷ đồng. Toàn bộ 100% số xóm có điện lưới quốc gia.
  • Hiện trạng sử dụng nước: Khảo sát 60 hộ gia đình cho thấy người dân phụ thuộc lớn vào nguồn nước dưới đất. Số hộ dùng nước giếng đào chiếm tỷ lệ cao nhất (36,67%), giếng khoan chiếm 26,67%, nước máy chiếm 15%, nước giếng khoan kết hợp nước máy chiếm 13,33%, và nước giếng đào kết hợp nước máy chiếm 8,33%.
  • Chất lượng nước giếng khoan: Khảo sát ý kiến của 16 hộ cho thấy 87,5% đánh giá nước bình thường, 12,5% phản ánh nước có cặn hoặc váng, 0% phản ánh có mùi hay vị lạ. Kết quả thử nghiệm 2 mẫu (NN3, NN4) cho thấy các chỉ tiêu đều đạt QCVN 01:2009/BYT: màu sắc từ 8,2–8,5 TCU (giới hạn 15); pH từ 6,78–6,89 (giới hạn 6,5–8,5); độ cứng từ 104,75–105,23 mgCaCO3/l (giới hạn 300); NO2- từ 0,04–0,05 mg/l (thấp hơn quy chuẩn 60–75 lần); NH4+ từ 0,28–0,31 mg/l; BOD5 từ 8,68–8,98 mg/l; COD từ 14,69–14,96 mg/l; DO từ 6,22–6,44 mg/l; TSS từ 31,5–34,2 mg/l.
  • Chất lượng nước giếng đào: Khảo sát 22 hộ cho thấy 72,73% đánh giá không có vấn đề, 27,27% cho biết nước có cặn váng. Phân tích 3 mẫu (NN1, NN2, NN5) cho thấy các chỉ tiêu hóa lý đều nằm trong ngưỡng an toàn của QCVN 01:2009/BYT: màu sắc từ 7,5–7,8 TCU; pH từ 6,8–7,1; độ cứng từ 95,8–96,5 mgCaCO3/l; NO2- từ 0,01–0,02 mg/l (thấp hơn giới hạn 150–300 lần); NH4+ từ 0,16–0,25 mg/l; BOD5 từ 4,66–5,02 mg/l; COD từ 7,76–7,89 mg/l; DO từ 6,52–6,70 mg/l; TSS từ 26,5–28,4 mg/l.
  • Tình hình sử dụng thiết bị lọc: Chỉ có 11,67% (7 hộ) có lắp đặt thiết bị lọc nước (máy lọc thương mại hoặc bể lọc cát sỏi), trong khi 88,33% (53 hộ) không sử dụng thiết bị lọc. Đánh giá về mức độ ô nhiễm: 86,67% nhận định nguồn nước không ô nhiễm, 8,33% ít ô nhiễm, 5% ô nhiễm trung bình và 0% ô nhiễm nghiêm trọng. Đáng chú ý, có tới 81,67% số hộ khẳng định chất lượng nước sinh hoạt có sự thay đổi rõ rệt theo mùa (mùa mưa nước bị đục, có màu vàng hoặc đỏ và mùi bùn đất; mùa khô mực nước cạn, xuất hiện váng và cặn vàng).
  • Các nguồn gây ô nhiễm tiềm tàng:
    • Rác thải sinh hoạt: Định mức 0,5 kg/người/ngày (182,5 kg/người/năm). Với quy mô dân số tính toán 6.265 người năm 2017, toàn xã thải ra khoảng 1.143,362 tấn rác thải/năm.
    • Nước thải sinh hoạt: Với nhu cầu cấp nước tối thiểu 20 lít/người/ngày (tổng cấp 125,3 m3/ngày) và hệ số phát thải 85%, lượng nước thải sinh hoạt đưa ra môi trường đạt khoảng 106,505 m3/ngày.
    • Bố trí chuồng trại và nhà vệ sinh: Nhiều hộ đặt nhà tiêu, bể phốt, chuồng nuôi gia súc ngay sát cạnh giếng khoan hoặc giếng đào do khuôn viên đất ở chật hẹp, chất thải chưa qua xử lý thấm trực tiếp vào đất.
    • Thương mại dịch vụ và chợ: Rác thải chợ và cơ sở dịch vụ không được phân loại triệt để, phát sinh nước rỉ rác chứa nhiều chất hữu cơ (50–60%), vi khuẩn gây bệnh đường ruột (thương hàn, tả, lỵ).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã phản ánh thực trạng tài nguyên nước sinh hoạt tại xã Đồng Bẩm thông qua việc đối chiếu trực tiếp giữa nhận thức người dân và kết quả thử nghiệm hóa lý. Dưới đây là các bảng tổng hợp số liệu cốt lõi trích xuất từ khóa luận:

Bảng 1: Cơ cấu sử dụng nguồn nước sinh hoạt của các hộ dân xã Đồng Bẩm (n = 60)

STT Nguồn nước sử dụng Số hộ gia đình Tỷ lệ (%)
1 Nước giếng đào 22 36,67
2 Nước giếng khoan 16 26,67
3 Nước máy 9 15,00
4 Nước giếng khoan kết hợp nước máy 8 13,33
5 Nước giếng đào kết hợp nước máy 5 8,33
Tổng 60 100,00

Bảng 2: Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm tại xã Đồng Bẩm so với QCVN 01:2009/BYT

STT Chỉ tiêu Đơn vị Giếng khoan NN3 Giếng khoan NN4 Giếng đào NN1 Giếng đào NN2 Giếng đào NN5 QCVN 01:2009/BYT
1 Màu sắc TCU 8,5 8,2 7,8 7,5 7,7 15
2 Mùi vị - Không lạ Không lạ Không lạ Không lạ Không lạ Không có mùi lạ
3 pH - 6,89 6,78 7,10 6,96 6,80 6,5 – 8,5
4 Độ cứng mg CaCO3/l 105,23 104,75 96,50 95,80 96,30 300
5 Nitrit (NO2-) mg/l 0,05 0,04 0,02 0,01 0,01 3,0
6 Amoni (NH4+) mg/l 0,31 0,28 0,25 0,16 0,18 3,0
7 DO mg/l 6,44 6,22 6,62 6,52 6,70 -
8 BOD5 mg/l 8,98 8,68 4,88 4,66 5,02 -
9 COD mg/l 14,69 14,96 7,89 7,76 7,80 -
10 TSS mg/l 34,20 31,50 28,40 26,50 26,80 -

Bảng 3: Tải lượng chất ô nhiễm sinh hoạt bình quân chưa qua xử lý đưa vào môi trường

STT Chất ô nhiễm Tải lượng (g/người/ngày)
1 Chất rắn lơ lửng (TSS) 107,0
2 Nhu cầu oxy hóa học (COD dicromate) 87,0
3 Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5) 50,0
4 Dầu mỡ phi khoáng 20,0
5 Tổng Nitơ (N) 9,0
6 Amoni (N-NH4+) 3,6
7 Tổng Photpho (P) 2,4

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm:

  • Giải pháp quản lý và chính sách: Đào tạo và tập huấn kiến thức môi trường cho cán bộ thôn xóm; quy hoạch các điểm tập kết thu gom rác thải tập trung; thành lập tổ tự quản vệ sinh môi trường tại mỗi xóm; triển khai chính sách hỗ trợ vốn vay để người dân xây dựng công trình hầm biogas xử lý chất thải chăn nuôi; mở rộng các dự án đầu tư mạng lưới cấp nước sạch tập trung đến các hộ dân gặp khó khăn về nguồn nước ngầm.
  • Giải pháp kỹ thuật công trình:
    • Đối với giếng đào: Bắt buộc đào cách xa nhà vệ sinh, chuồng trại gia súc, hố rác tối thiểu 10 m; xây dựng thành giếng cao từ 0,8 m trở lên; làm nắp đậy kín; sân giếng lát gạch hoặc láng xi măng có độ dốc thoát nước về phía rãnh thu gom để tránh nước bẩn ứ đọng; bố trí giá treo dụng cụ múc nước.
    • Đối với giếng khoan: Xây dựng hệ thống xử lý trước khi dùng cho ăn uống theo hai phương pháp: phương pháp lắng trong (để lắng tự nhiên hoặc keo tụ, khử phèn) và phương pháp lọc qua vật liệu cát, sỏi, than hoạt tính (áp dụng lọc chậm quy mô hộ gia đình, lọc nhanh cho cấp nước tập trung).
    • Đối với nước máy: Khuyến cáo người dân trữ nước trong lu, téc kín để lắng cặn và bay hơi clo khử trùng; luôn đun sôi trước khi uống; có thể bổ sung viên khử khuẩn tiệt trùng khi cần thiết.
  • Giải pháp tuyên truyền giáo dục: Phát động phong trào toàn dân dọn dẹp vệ sinh đường làng ngõ xóm, khơi thông cống rãnh; vận động các hộ gia đình chấm dứt hành vi xả rác thải, xác súc vật chết hoặc phân chuồng trực tiếp ra mương rãnh, sông suối.

Về mặt đóng góp, khóa luận là công trình khảo sát đầu tiên tại chỗ phản ánh chi tiết hiện trạng khai thác nước sinh hoạt tại xã Đồng Bẩm trong thời kỳ đầu chuyển dịch đô thị hóa. Tác giả tự đóng góp bộ số liệu phân tích thực nghiệm khách quan chứng minh nguồn nước ngầm mạch nông tại thời điểm khảo sát chưa có dấu hiệu nhiễm bẩn hóa lý vượt quy chuẩn, song chỉ ra rõ nét sự mâu thuẫn giữa tỷ lệ kiểm soát nước sạch của người dân (chỉ 11,67% có lọc) với nguy cơ ô nhiễm tích tụ từ lượng rác thải (1.143 tấn/năm) và nước thải sinh hoạt (106,5 m3/ngày) chưa được xử lý triệt để.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Khóa luận thực hiện trong khuôn khổ thực tập tốt nghiệp với thời lượng giới hạn (từ tháng 8 đến tháng 11/2017). Số lượng mẫu nước ngầm phân tích thực nghiệm còn ít (chỉ có 5 mẫu đại diện tại 5 hộ gia đình) và việc lấy mẫu chỉ diễn ra tại một thời điểm duy nhất (ngày 30/10/2017), do đó chưa phản ánh được toàn diện chu kỳ biến động hóa lý theo mùa dù 81,67% người dân phản ánh nước đổi màu, đổi mùi giữa mùa mưa và mùa khô. Danh mục chỉ tiêu phân tích phòng thí nghiệm còn thiếu vắng các thông số vi sinh vật (Coliform, E.coli) và kim loại nặng nguy hại (As, Pb, Cd) vốn là các nguy cơ ô nhiễm điển hình tại lưu vực sông Cầu. Phạm vi khảo sát xã hội học 60 hộ mới tập trung ở 4/10 xóm của xã.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô điều tra trên toàn bộ 10 xóm của xã; thiết lập mạng lưới quan trắc định kỳ theo mùa (mùa mưa và mùa khô); bổ sung đầy đủ các chỉ tiêu vi sinh và kim loại nặng độc hại trong nước ngầm và nước mặt; nghiên cứu thiết kế mô hình xử lý nước thải sinh hoạt và nước thải chăn nuôi chi phí thấp phù hợp với điều kiện kinh tế hộ gia đình nông thôn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên các chuyên ngành Quản lý tài nguyên, Khoa học môi trường, Địa chính môi trường trong việc tiếp cận phương pháp xây dựng đề cương, thiết kế phiếu điều tra xã hội học và áp dụng các tiêu chuẩn quốc gia (TCVN 6663-6, TCVN 6663-11) vào quá trình thu thập, bảo quản và phân tích mẫu nước thực địa.

Bên cạnh đó, các số liệu điều tra cơ cấu sử dụng đất, dân số, ước tính tải lượng phát thải rác thải - nước thải và kết quả kiểm nghiệm nước giếng đào, giếng khoan là nguồn dữ liệu thứ cấp hữu ích cho chính quyền xã Đồng Bẩm, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đồng Hỷ, cùng Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Thái Nguyên trong việc lập kế hoạch mở rộng mạng lưới nước sạch và quản lý vệ sinh môi trường nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ phân bố các nguồn nước sinh hoạt mà người dân xã Đồng Bẩm đang sử dụng thực tế là bao nhiêu?
Theo kết quả điều tra phỏng vấn 60 hộ gia đình trên địa bàn xã, nguồn nước giếng đào chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,67% (22 hộ); tiếp đến là nước giếng khoan chiếm 26,67% (16 hộ); nước máy chiếm 15% (9 hộ); nước giếng khoan kết hợp nước máy chiếm 13,33% (8 hộ); và nước giếng đào kết hợp nước máy chiếm 8,33% (5 hộ). Như vậy, phần lớn các hộ dân (trên 84%) vẫn đang dựa vào nguồn nước ngầm khai thác tại chỗ.

2. Các chỉ tiêu chất lượng nước giếng khoan và giếng đào phân tích trong khóa luận có đạt tiêu chuẩn không?
Tất cả 5 mẫu nước ngầm (2 mẫu giếng khoan và 3 mẫu giếng đào) lấy ngày 30/10/2017 đều đạt ngưỡng cho phép của QCVN 01:2009/BYT đối với các chỉ tiêu kiểm nghiệm: pH nằm trong khoảng 6,78–7,10; độ cứng dao động từ 95,8–105,23 mgCaCO3/l (thấp hơn nhiều so với giới hạn 300); hàm lượng NO2- đạt từ 0,01–0,05 mg/l (thấp hơn quy chuẩn từ 60 đến 300 lần); NH4+ đạt từ 0,16–0,31 mg/l (quy chuẩn cho phép 3 mg/l); màu sắc đạt từ 7,5–8,5 TCU (quy chuẩn 15) và không phát hiện mùi vị lạ.

3. Vì sao có tới 81,67% người dân cho rằng chất lượng nước sinh hoạt bị thay đổi theo mùa?
Theo khảo sát của tác giả, nguyên nhân chủ yếu là do các hộ dân sử dụng nước ngầm tầng mặt (mạch nông) nên mực nước và chất lượng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ điều kiện thời tiết. Vào mùa mưa, lượng mưa lớn ngấm qua các lớp đất bề mặt cuốn theo cặn bẩn khiến nước giếng bị đục, có màu vàng hoặc đỏ và lẫn mùi bùn đất; ngược lại vào mùa khô, mực nước ngầm hạ thấp, trong nước thường xuất hiện váng cặn và lắng đọng màu vàng.

4. Ước tính lượng nước thải và rác thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày tại xã Đồng Bẩm là bao nhiêu?
Với dân số tính toán năm 2017 là 6.265 người và định mức rác thải 0,5 kg/người/ngày, mỗi năm xã phát sinh khoảng 1.143,362 tấn rác thải sinh hoạt. Về nước thải, với mức cấp nước sinh hoạt tối thiểu 20 lít/người/ngày (tổng 125,3 m3/ngày) và lượng nước thải phát sinh tương đương 85% lượng cấp, xã Đồng Bẩm đưa ra môi trường khoảng 106,505 m3 nước thải sinh hoạt mỗi ngày chưa qua xử lý tập trung.

5. Khóa luận khuyến nghị những quy cách kỹ thuật cụ thể nào để bảo vệ giếng đào khỏi nguy cơ ô nhiễm?
Tác giả khuyến nghị vị trí đào giếng phải cách xa chuồng nuôi gia súc, gia cầm, nhà vệ sinh, hố rác ít nhất 10 m; thành giếng phải được xây cao tối thiểu 0,8 m và có nắp đậy kín; sân giếng phải được lát gạch hoặc láng xi măng, có độ dốc thoai thoải dẫn về rãnh thoát nước riêng để tránh ứ đọng sinh ruồi muỗi; đồng thời bố trí cọc hoặc giá treo dụng cụ múc nước riêng biệt để ngăn chặn lây nhiễm bẩn từ mặt đất.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thu Hà đã cung cấp bức tranh thực trạng về tình hình khai thác và chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại xã Đồng Bẩm, huyện Đồng Hỷ trong bối cảnh địa phương đang đô thị hóa mạnh mẽ. Dù các chỉ tiêu hóa lý của 5 mẫu nước ngầm phân tích thực nghiệm đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 01:2009/BYT, tỷ lệ hộ dân trang bị hệ thống lọc còn rất thấp (11,67%) trong khi chất lượng nước mạch nông phụ thuộc nhiều vào thời tiết và chịu áp lực lớn từ chất thải sinh hoạt, chăn nuôi chưa qua xử lý. Công trình đã xác lập cơ sở khoa học và đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ từ quản lý chính sách, kỹ thuật bảo vệ giếng khai thác đến nâng cao nhận thức cộng đồng, góp phần hỗ trợ công tác bảo vệ môi trường nước bền vững tại địa phương.