MỞ ĐẦU .Giới thiệu chung về đất ngập nước. Vai trò của đất ngập nước. Các mối đe dọa đối với đất ngập nước. Các yếu tố quy định chất lượng nước mặt.
Tổng chất rắn lơ lửng (TSS – Total suspended solids). Các chất dinh dưỡng. Chỉ số trạng thái dinh dưỡng của thủy vực TSI (Trophic State Index). Những công trình nghiên cứu về đất ngập nước trên thế giới và Việt Nam.
Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát. Giới thiệu chung. Các loại đất ngập nước trong vườn. Đặc điểm tự nhiên của vườn quốc gia Là Gò Xa Mát.
Lược sử nghiên cứu Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Thời gian và địa điểm nghiên cứu. Thời gian nghiên cứu.
Địa điểm nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp lấy mẫu nước. Phương pháp phân tích các thông số chất lượng nước.
Phương pháp đánh giá chất lượng nước và tình trạng dinh dưỡng các vùng đất ngập nước. Phân tích số liệu. 37 CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN. Đặc trưng lý hóa tính nước.
Hiện trạng dinh dưỡng trong các thủy vực. Sinh khối phiêu sinh thực vật trong các thủy vực khảo sát. Đánh giá chung chất lượng nước mặt ở các hệ sinh thái đất ngập nước 52 3. Những vấn đề trong chất lượng nước ở các bàu, ao và trảng.
Khả năng thanh lọc của suối Đa Ha và những ảnh hưởng từ các hệ sinh thái đất ngập nước xung quanh. 58 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 64 PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1 Sơ đồ vị trí vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát tỉnh Tây Ninh .1 Vị trí các điểm thu mẫu ở Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát .1 Biến thiên nhiệt độ theo thời gian .2 Biến thiên độ dẫn điện theo thời gian tại (a) các vị trí trên suối Đa Ha và (b) các thủy vực nước đứng.3 Biến thiên pH theo thời gian tại (a) các vị trí trên suối Đa Ha và (b) các thủy vực nước đứng.4 Biến thiên DO theo thời gian tại (a) các vị trí trên suối Đa Ha và (b) các thủy vực nước đứng.5 Biến thiên hàm lượng TSS theo thời gian tại (a) các vị trí trên suối Đa Ha và (b) các thủy vực nước đứng.6 Biến thiên hàm lượng TDS theo thời gian tại (a) các vị trí trên suối Đa Ha và (b) các thủy vực nước đứng.7 Biến thiên hàm lượng COD theo thời gian tại (a) các vị trí trên suối Đa Ha và (b) các thủy vực nước đứng.8 Biến thiên nồng độ Ptot theo thời gian tại (a) các vị trí trên suối Đa Ha và (b) các thủy vực nước đứng.9 Biến thiên nồng độ NH4+ theo thời gian tại (a) các vị trí trên suối Đa Ha và (b) các thủy vực nước đứng.10 Biến thiên nồng độ SRP theo thời gian tại (a) các vị trí trên suối Đa Ha và (b) các thủy vực nước đứng .11 Biến thiên chỉ số TSI theo thời gian tại (a) các vị trí trên suối Đa Ha và (b) các thủy vực nước đứng .12 Biến thiên nồng độ chlorophyll a theo thời gian tại (a) các vị trí trên suối Đa Ha và (b) các thủy vực nước đứng.13 Tương quan giữa nồng độ NH4+ và COD trong toàn bộ khu vực nghiên cứu.
Tương quan giữa nồng độ NH4+ và chlorophyll a trong toàn bộ khu vực nghiên cứu. Tương quan giữa hàm lượng TSS và chlorophyll a trong toàn bộ khu vực nghiên cứu. Tương quan giữa hàm lượng COD và Ptot trong toàn bộ khu vực nghiên cứu. Tương quan giữa hàm lượng COD và nồng độ chlorophyll a trong toàn bộ khu vực nghiên cứu.
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đất ngập nước là những vùng chuyển tiếp giữa hệ sinh thái trên cạn với sinh thái nước sâu. Các hệ sinh thái đất ngập nước là nơi chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên thiết yếu cho những hoạt động sống của con người, đồng thời thực hiện nhiều chức năng quan trọng về mặt sinh thái – môi trường. Bên cạnh vai trò cung cấp nước ngọt, lương thực – thực phẩm cho đời sống con người, đất ngập nước còn là nguồn dược liệu và vật liệu cho nhiều lãnh vực sản xuất khác nhau: nông nghiệp, công nghiệp, thủ công mỹ nghệ và du lịch. Các hệ sinh thái đất ngập nước đều có chức năng ổn định vi khí hậu, ổn định nguồn nước và duy trì cân bằng tuần hoàn của các nguyên tố hóa học, là nơi ở, nơi kiếm ăn của rất nhiều loài động vật quý hiếm và vì thế, chúng rất quan trọng trong việc duy trì đa dạng sinh học.
Đất ngập nước thường rất nhạy cảm với các hoạt động của con người và các tác động của thiên nhiên [1]. Mặc dù được công nhận là nắm giữ rất nhiều vai trò và chức năng quan trọng, đất ngập nước vẫn đang thoái hóa và biến mất rất nhanh tại nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển do sức ép từ việc gia tăng dân số, khai thác tài nguyên, mở rộng diện tích đất đai cho việc định cư và các hoạt động sản xuất và ô nhiễm môi trường. Kết quả là nguồn nước, an ninh lương thực và các hoạt động sinh hoạt, sản xuất của con người đều bị đe dọa. Bên cạnh các tác động nhân tạo, biến đổi khí hậu cũng là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe của các hệ sinh thái đất ngập nước.
Nền nhiệt gia tăng cùng với sự phân bố lượng mưa không đều làm tăng lũ lụt trong mùa mưa và bốc hơi mạnh mẽ trong mùa khô, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước và chất lượng nước. Các hệ sinh thái đất ngập nước ở Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát cũng chịu ảnh hưởng bởi những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Đây là khu vực có mức độ đa dạng sinh học cao với nhiều loài động thực vật quý hiếm [2], [3], [4]. Các vùng đất ngập nước trong Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát là nguồn cung cấp nhiều sản vật quan trọng cho người dân địa phương như lá mật cật, cây thuốc, dầu chai, đưng và nhiều loài thủy sản nước ngọt [5].
Do nắm giữ nhiều vai trò quan trọng, các hệ sinh 2 thái trong Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và xây dựng chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học cho khu vực [6]. Tuy nhiên, các vùng đất ngập nước ở đây đang bị đe dọa bởi tình trạng khô cạn, ô nhiễm nguồn nước, khai thác tài nguyên quá mức, chăn thả gia súc gây xáo trộn môi trường và lấn chiếm, biến đổi các vùng đất ngập nước tự nhiên thành đất nông nghiệp. Việc quản lý đất ngập nước tại Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát gặp phải nhiều khó khăn do đây là khu vực biên giới. Chất lượng nước trong khu vực không chỉ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các hoạt động sản xuất của người dân địa phương mà còn từ Cambodia qua sông Vàm Cỏ.
Trong khi đó, hiểu biết cụ thể về tác động của các hoạt động này đến chất lượng nước mặt – nền tảng của sức khỏe và đa dạng sinh học của các hệ sinh thái đất ngập nước trong khu vực còn rất hạn chế. Căn cứ vào tình hình hiện tại và với những lý do quan trọng nêu trên, đề tài “Đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt một số vùng đất ngập nước ở Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát, tỉnh Tây Ninh” được thực hiện. Đề tài cung cấp một phần thông tin dữ liệu phục vụ công tác quản lý hiệu quả và bền vững các hệ sinh thái đất ngập nước trong Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát. MỤC TIÊU – Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Đánh giá chất lượng nước mặt qua một số chỉ tiêu lí hóa và tình trạng dinh dưỡng tại một số kiểu đất ngập nước (suối, bàu, trảng, ao) trong vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát.
Ý nghĩa: Bổ sung cơ sở dữ liệu góp phần đánh giá tác động của các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân trong vùng đệm lên chất lượng nước mặt tại các kiểu hệ sinh thái đất ngập nước trong Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát. Là cơ sở để quản lý và bảo tồn đất ngập nước trong bối cảnh các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng. Giới thiệu chung về đất ngập nước Các vùng miền với những điều kiện khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng khác nhau đã tạo ra các vùng đất ngập nước có đặc điểm, tính chất, cảnh quan và hệ sinh thái khác nhau làm nên sự đa dạng của đất ngập nước. Định nghĩa và hệ thống phân loại đất ngập nước ra đời nhằm mục đích phục vụ cho việc quản lý và sử dụng chúng một cách hiệu quả.
Rất nhiều những đề án, định nghĩa và phân loại đất ngập nước đã được đề nghị trong nhiều năm qua. Tùy vào sự phân bố, loại hình, mục đích sử dụng và quản lý mà mỗi nơi có các định nghĩa và phân loại riêng về đất ngập nước phù hợp. Sau đây là định nghĩa và phân loại đất ngập nước có tính phổ quát: 1. Định nghĩa Theo định nghĩa của công ước Ramsar (1971): Đất ngập nước là “Khu vực đầm lầy, bùn, than bùn hoặc nước, dù là tự nhiên hay nhân tạo, vĩnh viễn hoặc tạm thời, với nước tĩnh hoặc chảy, ngọt, lợ hoặc mặn, bao gồm cả các vùng nước biển, độ sâu khi thủy triều thấp không vượt quá sáu mét”.
Định nghĩa này bao gồm cả hồ và sông không kể độ sâu [7]. - Đất ngập nước là môi trường sống bị ngập lụt hoặc bão hòa bởi nước trong ít nhất một số năm. Chúng bao gồm các kiểu đầm lầy và đầm lầy than bùn cũng như các khu vực thấp khác nơi sự hiện diện của nước đứng làm thay đổi tính chất hóa học và vật lý của đất và có thể dẫn đến một số kiểu thảm thực vật nhất định [8]. - Đất ngập nước gồm nhiều loại hình từ ao, hồ, sông ngòi, đầm lầy, đồng lúa đến rừng ngập mặn phát triển trên đất lầy mặn ven biển, rừng tràm phát triển trên đất chua phèn, các đầm ao nuôi trồng thủy sản, các bãi cá, các rạn san hô…[1].