MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Như chúng ta đã biết trong thời kỳ hoạt động kinh tế xã hội cũng như những hoạt động trong đời sống sinh hoạt con người đều phải sử dụng các nguồn năng lượng thác khác nhau. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong việc tìm kiếm nguồn năng lượng mới, song chúng chưa thể thay thế cho nhiên liệu hóa thạch và có khả năng cạn kiệt bất cứ lúc nào như than đá, dầu mỏ. Than là một nguồn tài nguyên không tái tạo vô cùng quý giá của nước ta.
Hiện nay, mỗi năm chúng ta thu được doanh thu hàng chục nghìn tỷ đồng từ hoạt động khai thác than, mang lại công ăn việc làm cho hơn một triệu lao động. Ngành Công Nghiệp khai thác than trên cả nươc nói chung và trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng đã có những bước phát triển vượt bậc, góp phần quan trọng trong xự nghiệp phat triển kinh tế – xã hội của tỉnh cũng như cả nước. Bên cạnh những lợi ích mà ngành khai thác than mang lại, thì hoạt động này cũng đã can thiệp khá mạnh mẽ đến môi trường, gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường đòi hỏi các nhà đầu tư phải có những biện pháp quản lý, giải pháp công nghệ và các giải pháp xử lý hợp lý nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng xấu đến môi trường. Thái Nguyên là tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng đa dạng và phong phú, đặc biệt là than.
Trước cách mạng tháng Tám, các kỹ sư Pháp đã đề xuất phát triển công nghiệp luyện kim đen trên cơ sở khai thác than Khánh Hòa, Phẫn Mễ và sắt Trại Cau. Hoạt động khai thác than tại đây đã làm thay đổi cảnh quan địa hình, thu hẹp diện tích đất trồng và đất rừng do diện tích khai trường và bãi thải ngày càng phát triển, gây ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước, tích tụ các chất thải và làm thay đổi tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái. Tuyến Băng tải cung cấp than cho Nhà máy Nhiệt điện Cao Ngạn thuộc Công ty than Núi Hồng – VVMI với chiều dài 2,7 km xuất phát từ mỏ than Khánh n 2 Hoà thuộc xã Phúc Hà, thành phố Thái Nguyên chạy qua phường Quán Triều, phường Tân Long và kết thúc tại Nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn. Tuyến Băng tải đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Nhìn chung, trong qua trình vận chuyển, ban quản lýphân xưởng đã chú trọng đến công tác phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường. Các hoạt động phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường vẫn được duy trì trong mỗi công đoạn vạn chuyển cũng như sửa chữa. Bên cạnh những nỗ lực đó vẫn còn nhiều bất cập xảy ra ảnh hưởng đến môi trường và người dân xung quanh. Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường và đư ợc sự hướng dẫn của giảng viên ThS.
Hà Đình Nghiêm, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá chất lƣợng môi trƣờng không khíTuyến Băng tải cung cấp than cho nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn giai đoạn 2015 – 2016” 1. Mục tiêu của đề tài 1. Mụctiêu tổng quát Đánh giá được tác động của hoạt động vận chuyển than đến môi trường của tuyến băng tải trên địa bàn xã Phúc Hà, phường Quán Triều, phường Tân Long, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, từ đó đề xuât các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường phù hợp nhằm bảo vệ môi trường từ hoạt động vận chuyển than của băng tải. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được hiện trạng môi trường không khí của tuyến băng tải.
- Xác định được mức độ ô nhiễm, những nguồn gây ô nhiễm chính đối với không khí. - Đánh giá công tác bảo vệ, xử lý môi trường không khí của tuyến băng tải. - Đề xuất được một số giải pháp bảo vệ môi trường không khí tại khu vực tuyến băng tải. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học của đề tài - Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu để làm quen với thực tế. - Nâng cao kiến thức và tích lũy được kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. - Là nguồn tài liệu cho học tập. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Đánh giá được hiện trạng môi trường nước thải của phân xưởng Băng tải, từ đó tăng cường trách nhiệm bảo vệ môi trường của cán bộ công nhân viên trong phân xưởng, có những hoạt động tích cực trong việc xử lý nước thải.
- Cảnh báo nguy cơ về ô nhiễm môi trường nước do nước thải gây ra, bảo vệ sức khỏe công nhân và những người dân xung quanh. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Một số khái niệm về môi trường - Khái niệm về môi trường: Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2014, môi trường được định nghĩa như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.
- Khái niệm ô nhiễm môi trường: Theo khoản 8 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2014: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật “ - Hoạt động bảo vệ môi trường: Theo khoản 3 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2014: “ Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành. - Khái niệm tiêu chuẩn môi trường: Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2014: “Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường.” - Quy chuẩn kỹ thuật môi trường: Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2014: “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi n 5 trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường.Không khí và một số khái niệm liên quan Tài nguyên không khí hay chính là khí quyển trái đất khá ổn định theo phương nằm ngang và phân dị theo phương thẳng đứng. Phần lớn khối lượng 5.1015 tấn của toàn bộ khí quyển tập trung ở tầng đối lưu và bình lưu. Thành phần khí quyển trái đất gồm chủ yếu là Nitơ, Oxy, hơi nước, CO2, H2, O3, NH4, các khí trơ.
* Ô nhiễm môi trường không khí: "Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi)". [5] Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia ra thành nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo. - Nguồn tự nhiên: + Núi lửa: Núi lửa phun ra những nham thạch nóng và nhiều khói bụi giàu sunfua, mêtan và những loại khí khác.
Không khí chứa bụi được phun lên rất cao và lan toả đi rất xa. + Cháy rừng: Các đám cháy rừng và đồng cỏ bởi các quá trình tự nhiên xảy ra do sấm chớp, cọ sát giữa thảm thực vật khô như tre, cỏ. Các đám cháy này thường lan truyền rộng, phát thải nhiều bụi và khí. + Bão bụi gây nên do gió mạnh và bão, mưa bào mòn đất sa mạc, đất trồng và gió thổi tung lên thành bụi.
Nước biển bốc hơi và cùng với sóng biển tung bọt mang theo bụi muối lan truyền vào không khí. + Các quá trình phân huỷ, thối rữa xác động, thực vật tự nhiên cũng phát thải nhiều chất khí, các phản ứng hoá học giữa những khí tự nhiên hình thành các khí sunfua, nitrit, các loại muối v. Các loại bụi, khí này đều gây ô nhiễm không khí. n 6 - Nguồn nhân tạo: Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng, nhưng chủ yếu là do hoạt động công nghiệp, đốt cháy nhiên liệu hoá thạch và hoạt động của các phương tiện giao thông.
Nguồn ô nhiễm công nghiệp do hai quá trình sản xuất gây ra: + Quá trình đốt nhiên liệu thải ra rất nhiều khí độc đi qua các ống khói của các nhà máy vào không khí. + Do bốc hơi, rò rỉ, thất thoát trên dây chuyền sản xuất sản phẩm và trên các đường ống dẫn tải. Nguồn thải của quá trình sản xuất này cũng có thể được hút và thổi ra ngoài bằng hệ thống thông gió. Các ngành công nghiệp chủ yếu gây ô nhiễm không khí bao gồm: nhiệt điện, vật liệu xây dựng, hoá chất và phân bón, dệt, giấy, luyện kim, thực phẩm, các xí nghiệp cơ khí, các nhà máy thuộc ngành công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải, bên cạnh đó phải kể đến sinh hoạt của con người.
* Các tác nhân nào gây ô nhiễm không khí? Các chất và tác nhân gây ô nhiễm không khí gồm: + Các loại oxit như: Nitơ oxit (NO, NO2), nitơ đioxit (NO2), SO2, CO, H2S và các loại khí halogen (clo, brom, iôt). + Các hợp chất flo. + Các chất tổng hợp (ete, benzen). + Các chất lơ lửng (bụi rắn, bụi lỏng, bụi vi sinh vật), nitrat, sunfat, các phân tử cacbon, sol khí, muội, khói, sương mù, phấn hoa.
+ Các loại bụi nặng, bụi đất, đá, bụi kim loại như đồng, chì, sắt, kẽm, niken, thiếc, cađimi. + Khí quang hoá như ozôn, FAN, FB2N, NOX, anđehyt, etylen. + Chất thải phóng xạ + Nhiệt độ + Tiếng ồn Sáu tác nhân ô nhiễm đầu sinh ra chủ yếu do quá trình đốt cháy nhiên liệu và sản xuất công nghiệp. Các tác nhân ô nhiễm không khí có thể phân thành hai dạng: n 7 dạng hơi khí và dạng phần tử nhỏ.
Tuy nhiên, phần lớn các tác nhân ô nhiễm đều gây tác hại đối với sức khỏe con người.