PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Trước sự cạnh tranh khốc liệt của hội nhập, việc các NHTM Việt Nam chú trọng khai thác và phát triển dịch vụ bán lẻ mang lại những ý nghĩa kinh tế xã hội vô cùng to lớn. Cụ thể: Đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, đa dạng hoá nhu cầu của xã hội, giúp ngân hàng phân tán rủi ro, tăng lợi nhuận, mở rộng quy mô và nâng cao sức cạnh tranh. Khi chuyển sang bán lẻ, ngân hàng sẽ có thị trường lớn hơn, tiềm năng phát triển tăng lên và có khả năng phân tán rủi ro trong kinh doanh.
Không những thế, dịch vụ ngân hàng bán lẻ còn mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng và toàn bộ nền kinh tế nói chung, khi mục tiêu thanh toán không dùng tiền mặt được chú trọng; đã tiết kiêṃ chi phí, thời gian cho cả ngân hàng và khách hàng, đồng thời giúp cải thiêṇ đời sống dân cư. Chính vì thế các sản phẩm bán lẻ của các NHTM tuy còn rất mới mẻ nhưng đã được khách hàng quan tâm và thu được không ít thành công. Hơn nữa, dịch vụ bán lẻ đang trở thành một xu thế tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và ngày càng giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Một thị trường Việt Nam đầy tiềm năng với hơn 96 triệu dân, trong đó hơn nửa là dân số trẻ, nhưng mới chỉ có khoảng 31% dân số mở tài khoản tại ngân hàng, thấp nhất so với các nước trong khu vực ASEAN.
Để khai thác thị trường này, các Ngân hàng Việt Nam sẽ không chỉ cạnh tranh với nhau mà họ còn phải cạnh tranh với các định chế tài chính nước ngoài. Đây là một bước đi đúng đắn và sáng suốt, tuy sẽ phải bỏ ra nhiều chi phí bước đầu để cải tiến, đổi mới công nghệ, cũng như quảng bá thương hiệu, sản phẩm, nhưng về lâu dài sẽ hứa hẹn đem lại nguồn thu lớn, chia sẻ và giảm thiểu rủi ro cho các Ngân hàng. Nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong cạnh tranh với các Chi nhánh NHTM, tác giả chọn đề tài “Chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phân Phương Đông - Chi nhánh Long An” để nghiên cứu thực hiện luận văn Thạc sĩ chuyên ngành tài chính ngân hàng. Mục tiêu nghiên cứu 2.
Mục tiêu chung Luận văn phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông - Chi nhánh Long An. Mục tiêu cụ thể - Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phân Phương Đông - Chi nhánh Long An giai đoạn 2017 - 2019; - Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phân Phương Đông - Chi nhánh Long An. Đối tượng nghiên cứu Dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng thương mại. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về không gian địa điểm: Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phân Phương Đông - Chi nhánh Long An.
- Phạm vi về thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong thời gian từ năm 2017 đến năm 2019 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phân Phương Đông - Chi nhánh Long An. Câu hỏi nghiên cứu (1) Dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phân Phương Đông - Chi nhánh Long An trong giai đoạn 2017 - 2019 đạt được những gì, còn tồn tại những khó khăn, hạn chế gì?. (2) Ngân hàng Thương mại Cổ phân Phương Đông - Chi nhánh Long An cần phải có những giải pháp nào nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Chi nhánh trong thời gian tới?. Phương pháp nghiên cứu Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, cụ thể: Phương pháp diễn dịch, quy nạp, phân tích và tổng hợp để hình thành khung lý thuyết về dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng thương mại.
3 Các phương pháp thống kê và phân tích để phân tích và đánh giá thực trạng về dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại NHTM, tổng hợp các hạn chế và nguyên nhân của hạn chế. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Dịch vụ ngân hàng là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Sản phẩm của các dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lưới Chi nhánh, các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, dịch vụ ngân hàng bán lẻ được hiểu là tất cả những hoạt động của ngân hàng, cung cấp sản phẩm ngân hàng nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng giao dịch và tìm kiếm lợi nhuận từ những hoạt động nói trên.
Những dịch vụ ngân hàng cung cấp dành cho đối tượng khách hàng cá nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm dịch vụ tín dụng cá nhân, bảo lãnh thanh toán, huy động cá nhân, dịch vụ tiền gửi, dịch vụ thẻ và các dịch vụ khác…[3] 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ Chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ là khả năng đáp ứng của dịch vụ ngân hàng đối với sự mong đợi của khách hàng sử dụng dịch vụ, hay nói cách khác đó là khoảng cách giữa sự kỳ vọng của khách hàng với cảm nhận của họ về những kết quả mà họ nhận được sau khi sử dụng các dịch vụ bán lẻ của ngân hàng. Như vậy, chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ được xác định bao gồm các yếu tố: Thứ nhất là sản phẩm dịch vụ được thiết kế phù hợp để thỏa mãn tối đa nhu cầu của đối tượng khách hàng bán lẻ. Thứ hai là đội ngũ nhân viên thực hiện dịch vụ, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng phục vụ chuyên nghiệp, tác phong nhanh nhẹn, thái độ phục vụ chu đáo, nhiệt tình… 5 Thứ ba là quy trình, thủ tục cung ứng dịch vụ rõ ràng, đơn giản, được thực hiện nhanh chóng, chính xác, được hỗ trợ bởi các trang thiết bị hiện đại.
Thứ tư là mạng lưới kênh phân phối thuận tiện, dễ tiếp cận hay truy cập, hướng đến phục vụ khách hàng tốt nhất. Phân loại dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1. Huy động vốn Để thu hút các nguồn vốn tạm thời trong xã hội các NHTM có thể thực hiện huy động vốn thông qua nhiều nghiệp vụ, nhưng chủ yếu vẫn là từ nghiệp vụ nhận tiền gửi. Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của ngân hàng.
Đây là khoản mục duy nhất trên bảng cân đối kế toán giúp phân biệt ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác. Tiền gửi của khách hàng thường chia làm các loại sau: * Tiền gửi có kỳ hạn Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào tổ chức tín dụng trên cơ sở có sự thỏa thuận với tổ chức tín dụng nhận tiền về thời gian rút tiền. Đối với mỗi loại kỳ hạn thì áp dụng một mức lãi suất tương ứng trên nguyên tắc kỳ hạn dài, lãi suất càng cao. * Tiền gửi không kỳ hạn Là loại tiền gửi được khách hàng gửi vào các tổ chức tín dụng để thực hiện các khoản chi trả, thanh toán.
Thông thường khách hàng gửi loại tiền gửi này có thể rút bất cứ lúc nào nên sẽ không được trả lãi hoặc được trả lãi suất rất thấp. Và đối với loại tiền gửi này, khách hàng được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả như séc, ủy nhiệm chi và các lệnh chi khác. * Tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền gửi của tầng lớp dân cư vào tài khoản tiết kiệm tại ngân hàng, nhằm mục đích tích lũy, sinh lời và an toàn tài sản. - Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền mà không phải theo định kỳ nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.
Do đó ngân hàng không chủ động trong việc sử dụng tền gửi để cấp tín dụng vì phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả khi khách hàng có nhu cầu, vì vậy lãi suất thường rất thấp. Cho nên đối tượng của loại hình tiết kiệm này là khách hàng cá nhân có một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi do không thết lập được kế hoạch 6 sử dụng tiền trong tương lai nên muốn gởi vào ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lời. - Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm định kỳ được thiết kế dành cho khách hàng cá nhân có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai.
Đối tượng khách hàng chủ yếu của loại tiền gửi này là các cá nhân muốn có thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quýMục tiêu quan trọng của họ khi chọn lựa hình thức tiền gửi này là lợi tức có được theo định kỳ. Do vậy, lãi suất đóng vai trò quan trọng để thu hút được đối tượng khách hàng này. Tín dụng bán lẻ Ngân hàng huy động tiền về không phải để cất giữ mà để cho các tổ chức, cá nhân khác vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng và sản xuất kinh doanh với mục đích tiền gửi có thể sinh lời và ngân hàng được hưởng một phần lãi. Hoạt động cho vay bao gồm hai loại hình chủ yếu là cho vay tiêu dùng và cho vay sản xuất kinh doanh.
Cho vay tiêu dùng là các khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu, mua sắm của khách hàng cá nhân. Khoản tiền vay này thường được sử dụng vào những mục đích tiêu dùng như mua nhà, sửa chữa, mua đồ dùng….