Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Thiết kết nghiên cứu Chương 4: Kết quả và thảo luận Chương 5: Kết luận và giải pháp 3 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LU N 2. Ngân hàng thƣơng mại 2.Khái niệm ngân hàng thương mại Theo đạo luật ngân hàng của Cộng Hòa Pháp năm 1941 đã cho biết: “NHTM là những cơ sở mà nghiệp vụ thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác,hoặc dƣới hình thức khác,và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiếc khấu, tín dụng và tài chính” (Trần Huy Hoàng,2011). Theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009: “NHTM là ngân hàng đƣợc thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các TCTD và các quy định khác của pháp luật”.Các nghiệp vụ ngân hàng thương mại 2. Nhận tiền gửi Để huy động vốn, các ngân hàng đã cung cấp rất nhiều loại tiền gửi khác nhau cho khách hàng lựa chọn.
Mỗi công cụ huy động tiền gửi mà các ngân hàng đƣa ra đều có những đặc điểm riêng biệt nhằm làm cho chúng phù hợp hơn với nhu cầu của khách hàng trong việc tiết kiệm và thực hiện thanh toán. Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn tiền gửi của ngân hàng thƣơng mại bao gồm tiền gửi của tổ chức kinh tế, tiền gửi của dân cƣ và tiền gửi khác. Tiền gửi của tổ chức kinh tế Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế thƣờng có một bộ phận vốn nhàn rỗi tạm thời nhƣ: Khấu hao đã trích nhƣng chƣa đến lúc sử dụng; Tiền thu bán hàng chƣa phải mua nguyên liệu, trả lƣơng; Các quỹ đầu tƣ phát triển, phúc lợi, khen thƣởng đã trích nhƣng chƣa sử dụng đến…Để đảm bảo an toàn tài sản và đồng vốn vẫn sinh lời, các tổ chức kinh tế có thể gửi số vốn đó vào ngân hàng. Hoặc để thuận tiện cho quá trình sử dụng vốn, đơn vị có thể thanh toán qua ngân hàng cũng nhƣ sử dụng các dịch vụ ngân hàng khác.
Khi đó, họ cần phải gửi vốn vào ngân hàng. Tổ chức kinh tế có thể gửi vốn vào ngân hàng dƣới hình thức: Tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn với các kỳ hạn 4 khác nhau. Đồng thời ngân hàng sẽ mở cho đơn vị các tài khoản tƣơng ứng để thuận tiện trong việc sử dụng. - Tiền gửi không kỳ hạn: Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà ngƣời gửi có thể rút tiền ra bất kỳ lúc nào và ngân hàng luôn có nghĩa vụ phải thỏa mãn các nhu cầu đó.
Loại tiền gửi này có mục đích chính là để thanh toán. - Tiền gửi có kỳ hạn: Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền. Về nguyên tắc, ngƣời gửi chỉ có thể rút tiền theo thời hạn thỏa thuận, nhƣng trên thực tế để thu hút loại tiền gửi này với kỳ hạn dài, các ngân hàng thƣờng cho phép rút tiền trƣớc thời hạn nhƣng khách hàng chỉ đƣợc hƣởng lãi suất không kỳ hạn hoặc hƣởng mức lãi suất tƣơng ứng theo loại kỳ hạn nhất định do ngân hàng quy định. Nguồn vốn này có tính ổn định cao, ngân hàng chủ động trong quá trình sử dụng.
Vì vậy, để có thể thu hút nhiều hơn loại tiền gửi này, các ngân hàng thƣờng đƣa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau phù hợp với thời gian vốn nhàn rỗi ở các đơn vị, mỗi kỳ hạn có một mức lãi suất tƣơng ứng theo nguyên tắc kỳ hạn càng dài lãi suất càng cao. Tiền gửi của dân cƣ Tiền gửi của dân cƣ là một bộ phận thu nhập bằng tiền của các tầng lớp dân cƣ trong xã hội gửi vào ngân hàng nhằm mục đích tiến kiệm, kiếm lời và để thanh toán. Tiền gửi của dân cƣ bao gồm hai loại: Tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán - Tiền gửi tiết kiệm: Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của ngân hàng. Với loại tiền gửi này, ngƣời gửi đƣợc ngân hàng giao cho một sổ tiết kiệm, trong thời gian gửi tiền, số tiết kiệm có thể dùng làm vật cầm cố hoặc đƣợc chiết khấu để vay vốn ngân hàng.
- Tiền gửi thanh toán: Các cá nhân trong xã hội cũng có nhu cầu và đƣợc pháp luật cho phép thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Khi đó họ cũng mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng và gửi tiền vào đó để đáp ứng các nhu cầu thanh toán cũng nhƣ để sử dụng các tiện ích khác có liên quan của ngân hàng. Tiền gửi khác Ngoài hai loại tiền gửi nói trên tại NHTM còn có thêm các khoản tiền gửi khác nhƣ: Tiền gửi của TCTD khác; Tiền gửi của Kho bạc Nhà nƣớc; Tiền gửi của các tổ chức đoàn thể, xã hội… 2. Khái niệm về cho vay Cho vay là một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, thông qua hoạt động cho vay ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dƣới hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động đƣợc từ trong xã hội để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống.
Cho vay là quyền của NHTM với tƣ cách là ngƣời cho vay yêu cầu khách hàng của mình- ngƣời đi vay muốn vay đƣợc vốn phải tuân thủ những điều kiện nhất định, những điều kiện này là cơ sở ràng buộc về mặt pháp lý đảm bảo cho ngƣời cho vay có thể thu hồi đƣợc vốn (gốc+ lãi) sau một thời gian nhất định. Mặt khác cho vay là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu Qua các khái niệm trên cho thấy bản chất của cho vay là một giao dịch về tiền hoặc tài sản trên cơ sở có hoàn trả mà thực chất là sự vay mƣợn dựa trên cơ sở tin tƣởng, tín nhiệm lẫn nhau. Trong đó sự hoàn trả là đặc trƣng thuộc về bản chất của cho vay, là nguyên tắc để phân biệt phạm trù cho vay với cấp phát của NSNN. Phân loại cho vay của ngân hàng thƣơng mại Trong nền kinh tế thị trƣờng, hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau.
Việc áp dụng từng loại cho vay tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế của đối tƣợng sử dụng vốn tín dụng nhằm sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả và phù hợp với sự vận động cũng nhƣ đặc điểm kinh tế khác nhau của đối tƣợng tín dụng. Để quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn tín dụng, cần thiết phải phân loại cho vay. 6 Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Nếu việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học sẽ là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Có nhiều hình thức phân loại cho vay, tuy nhiên trên thực tế, ngƣời ta thƣờng phân loại cho vay theo các tiêu thức sau: Phân loại theo thời hạn cho vay; Phân loại theo đối tƣợng cho vay; phân loại theo mục đích sử dụng vốn; phân loại theo xuất xứ tín dụng; phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay; phân loại theo phƣơng pháp hoàn trả… 2. Các hoạt động dịch vụ khác Cùng với sự phát triền của nền kinh tế, NHTM với vai trò là một trung gian tài chính ngày càng mở rộng các hoạt động của mình. Các NHTM tiến hành nhiều loại hình hoạt động nhằm mục đích đa dạng hóa các hoạt động, phân tán rủi ro, tăng lãi, tận dụng lợi thế là một trung gian tài chính. Một số hoạt động dịch vụ ngân hàng thực hiện ngoài nghiệp vụ huy động và cho vay đó là: a.
Dịch vụ thanh toán trong nƣớc Là chỉ các nghiệp vụ chi trả tiền hàng, dịch vụ, chuyển tiền và các khoản thanh toán khác giữa các tác nhân trong phạm vi một quốc gia đƣợc thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng. Dịch vụ thanh toán quốc tế Là việc thực hiện chi trả bằng tiền liên quan đến các dịch vụ thƣơng mại giữa các tổ chức và cá nhân nƣớc này với các tổ chức và cá nhân nƣớc khác hay giữa một quốc gia với các tổ chức quốc tế thông qua quan hệ giữa các NH của các nƣớc liên quan. Kinh doanh ngoại tệ Sự phát triển của ngoại thƣơng và thanh toán quốc tế đã thúc đẩy sự tham gia ngày càng nhiều của các doanh nghiệp, cá nhân vào thị trƣờng ngoại hối. Vì vậy các hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thƣơng mại ngày càng có vị trí quan trọng hơn.
Với một thị trƣờng liên tục và mang tính quốc tế nhƣ thị trƣờng ngoại hối, để đảm bảo sự thống nhất và nhanh chóng trong các giao dịch, 7 ngân hàng cũng nhƣ bất cứ một ai tham gia vào thị trƣờng này đều cần hiểu một số quy ƣớc của thị trƣờng theo thông lệ quốc tế. Dịch vụ bảo lãnh Bảo lãnh ngân hàng là một dạng dịch vụ ngân hàng hiện đại, xuất hiện vào giữa những năm 60 ở một thị trƣờng nội địa nƣớc Mỹ. Sau đó, vào đầu những năm 70, bảo lãnh bắt đầu đƣợc sử dụng trong các giao dịch thƣơng mại quốc tế. Từ đó đến nay, dịch vụ bảo lãnh đƣợc ứng dụng rộng rãi trong các loại giao dịch.
Dịch vụ kinh doanh chứng khoán Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán rất đa dạng và phong phú, nó mang nhiều đặc trƣng riêng và có không ít rủi ro. Thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng phải tổ chức những bộ phận kinh doanh riêng hoặc có thể thành lập công ty chứng khoán phụ thuộc. Thực hiện các hoạt động đầu tƣ chứng khoán, Ngân hàng sử dụng vốn để nắm giữ các chứng khoán với nhiều mục đích khác nhau nhƣ: đảm bảo sự đa dạng trong sử dụng vốn nhằm phân tán rủi ro, nâng cao hiệu suất sử dụng vốn, tăng thêm thu nhập. Một số dịch vụ khác nhƣ: dịch vụ thông tin, tƣ vấn; dịch vụ ủy thác; 2.Dịch vụ ngân hàng thƣơng mại 2.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng Hiện nay chƣa có định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Tính đa dạng, phức tạp, vô hình của các loại hình dịch vụ làm cho việc thống nhất khái niệm dịch vụ trở nên khó khăn.