CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CĂNG THẲNG TÂM LÝ CỦA HỌC SINH CUỐI CẤP THCS 1. Tổng quan nghiên cứu Căng thẳng tâm lý (stress tâm lý) là một vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến hiện nay và điều đó có nghĩa là ngay cả những em học sinh - sinh viên cũng gặp phải tình trạng này. Trên thực tế, căng thẳng tâm lý xuất hiện ở mức trung bình đến rất cao trong các nhà trường và cơ sở đào tạo trên toàn thế giới. Trong một khảo sát toàn quốc được thực hiện bởi Hiệp hội Sức khoẻ Trường học Hoa Kỳ (ACHA) năm 2019, phần lớn sinh viên đại học cho rằng lo âu và căng thẳng là những nguyên nhân hàng đầu ảnh hưởng tởi thành tích học tập bản thân và 49,3% trong số đó trải qua mức độ căng thẳng vừa phải [2].
31% học sinh cho rằng nguyên nhân gây căng thẳng tâm lý chủ yếu đến từ các kỳ thi và bài kiểm tra, sau đó là những đòi hỏi về lượng kiến thức học thuật trong nhà trường và lượng bài tập về nhà. Bên cạnh nhu cầu học tập, học sinh - sinh viên có thể trải qua căng thẳng do nhiều vấn đề khác gây ra như các mối quan hệ xã hội, các vấn đề sức khoẻ thể chất hay các vấn đề về tài chính. Liên quan đến đại dịch vừa qua, các nguyên nhân gây căng thẳng tâm lý ở học sinh còn bao gồm: lo lắng về ảnh hưởng của đại dịch lên kế hoạch học tập của bản thân (75%), lo lắng về định hướng tương lai sau khi đại dịch kết thúc (56%), buồn chán và căng thẳng do bị cách ly khỏi bạn bè và trường học (50%), nhớ cuộc sống học đường (45%) và không thích nghi được với việc học tập trực tuyến toàn phần (40%). Có thể thấy, học sinh chủ yếu gặp căng thẳng tâm lý với vấn đề học tập, và căng thẳng tâm lý hầu hết đến từ các kỳ thi hay kỳ kiểm tra - đây là những thời điểm mà học sinh cần nỗ lực hết sức bởi thông thường chúng đánh dấu những thay đổi nhất định trên chặng đường học tập của các bạn, ví dụ như chuyển cấp, chuyển lớp hay phân loại, xếp hạng.
17 Giai đoạn chuyển cấp là giai đoạn gây căng thẳng tiềm tàng với tâm lý học sinh. Tác giả Lê Thị Thanh Thủy thực hiện một nghiên cứu định tính trên 65 học sinh có dấu hiệu căng thẳng tâm lý cho thấy, có 89,2% học sinh cảm thấy căng thẳng vì thời gian dành cho việc học quá nhiều, trong đó mức độ rất căng thẳng chiếm 49,2% (2009) [50]. Các em học sinh lớp 12 cho rằng quỹ thời gian hạn hẹp với lịch học dày đặc là điều đáng lo ngại nhất, bên cạnh đó các em còn chịu áp lực vì khối lượng kiến thức phải tích lũy quá lớn. Áp lực trong học tập của học sinh khối 12 lớn hơn khối 10 và 11 bởi 2 kỳ thi tốt nghiệp THPT và thi vào đại học.
Một nghiên cứu về thực trạng mức độ căng thẳng trong học tập của học sinh lớp 12 tại thành phố Đà Nẵng (Việt Nam) của tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương và bác sĩ Đinh Xuân Lâm (2019) cũng kết luận rằng 23.9% số học sinh được khảo sát cảm thấy rất căng thẳng (mức độ 4) và 12.6% số em cảm thấy căng thẳng (mức độ 3) khi phải đối diện với kỳ thi chuyển cấp [52]. Bàn về căng thẳng tâm lý, có nhiều hướng tiếp cận và khái niệm khác nhau đã từng được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu. Căng thẳng tâm lý có thể là kết quả của những phản ứng bên trong cơ thể, là kết quả của sự tác động từ môi trường đến chủ thể hoặc là kết quả giữa của sự tương tác giữa các yếu tố bên trong của con người với những sự kiện đến từ môi trường bên ngoài (Hinkle, 1987) [20] hay cụ thể hơn, là kết quả của việc cơ thể và tinh thần con người chịu áp lực quá lớn do các yếu tố bên ngoài môi trường gây ra (Pigott, 1999) [37]. Do các định hướng tiếp cận khác nhau, các định nghĩa được đưa ra cũng có những khác biệt nhất định.
Đây là những nghiên cứu đặt nền tảng cho vấn đề căng thẳng tâm lý và có tính chất định hướng đối với những nghiên cứu sau này liên quan đến mức độ, biểu hiện, nguyên nhân và cách thức ứng phó với căng thẳng tâm lý. Căng thẳng tâm lý có thể xuất hiện với các biểu hiện dễ nhận thấy nhất về thể chất. Từ lâu, các nhà nghiên cứu (Malach Pines và Keinan, 2007; Ongori, 2007; Ongori và Agolla, 2008; Agolla, 2009) đã xác định những biểu hiện của căng thẳng có thể bao gồm thiếu năng lượng, cảm giác mệt mỏi hay chán nản, cảm giác bồn chồn và lo lắng, thèm ăn hoặc kém tập trung. Nghiên cứu của Amirkhan, Landa và Huff (2018) chỉ ra rằng các biểu hiện đầu tiên của căng thẳng tâm lý quá mức có thể thể hiện qua sự bất thường trong hoạt động nhận thức (suy nghĩ), hoạt động hô hấp (hít thở) và hoạt động tiêu hoá [4].
Các biểu hiện khác như đau đầu, đau lưng, đổ mồ hôi, run rẩy, nóng lòng bàn tay, cồn cào ruột gan, v.v… cũng có thể xuất hiện. Theo tổng hợp của Paul (1994), song song với các biểu hiện thể chất, các biểu hiện tâm lý của tình trạng này bao gồm: tư duy chậm, dễ quên, khó tập trung, tâm trạng buồn bã hoặc chán nản hoặc cáu giận vô cớ, rối loạn về khẩu vị hoặc giấc ngủ, v. Mặt khác, những biểu hiện là không giống nhau ở mỗi cá nhân bởi điều này phụ thuộc vào cách thức mà người đó nhìn nhận về tình huống gây căng thẳng và cả cách thức người này sử dụng để ứng phó với tình huống. Nguyên nhân dẫn đến căng thẳng tâm lý thường gắn liền với những tình huống khó khăn khiến cá nhân có cảm giác quá tải khi phải ứng phó.
Đối với học sinh - sinh viên nói chung, các nguyên nhân này có thể xoay quanh các mối quan tâm chính của các em là việc học tập và các mối quan hệ xã hội. Nghiên cứu của Cassidy (1999) nêu ra một số tác nhân gây căng thẳng ở học 19 sinh cuối cấp trung học phổ thông như các kỳ kiểm tra, vấn đề điểm số, nỗi lo lắng cho tương lai, lựa chọn nghề nghiệp, việc ôn thi, khối lượng kiến thức, kỳ vọng của gia đình và của bản thân các em [10]. Theo một nghiên cứu khác của tác giả Đỗ Thị Lệ Hằng (2009), hoạt động học tập, mối quan hệ gia đình, mối quan hệ bạn bè và các tình huống bất thường có thể là những tác nhân gây căng thẳng tâm lý đối với thanh thiếu niên trong độ tuổi 12-18 tuổi [49]. Nghiên cứu của Acosta-Gómez và cộng sự (2018) chỉ ra rằng nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng căng thẳng tâm lý ở học sinh lứa tuổi trung học bao gồm các kỳ thi, bài tập về nhà, hoạt động ngoài trường học, các bài thuyết trình, sự cạnh tranh với bạn học và sự quá tải trong tiếp thu và xử lý kiến thức [1].
Nhìn chung, nguyên nhân của căng thẳng thường nằm trong chính các hoạt động chức năng và xã hội hàng ngày của học sinh. Các vấn đề luôn luôn có khả năng nảy sinh và một khi chúng vượt ngoài khả năng ứng phó của các em, chúng đều có thể gây ra căng thẳng tâm lý. Như vậy, căng thẳng tâm lý là vấn đề sức khoẻ tinh thần phổ biến và cấp thiết có thể gặp ở mọi lứa tuổi, bao gồm cả lứa tuổi thanh thiếu niên. Xuyên suốt chiều dài lịch sử các nghiên cứu khoa học, có nhiều hướng tiếp cận với những khái niệm khác nhau về căng thẳng tâm lý, xoay quanh những phản ứng ở bên trong con người khi tình huống gây căng thẳng xảy ra, hoặc những phản ứng tương tác giữa con người với tác nhân gây căng thẳng từ môi trường bên ngoài.
Khi trải qua tình trạng căng thẳng, con người có các dấu hiệu cả về thể chất, tâm lý, nhận thức và hành vi. Với lứa tuổi thanh thiếu niên, mối quan tâm chính của các em là hoạt động học tập và các mối quan hệ xã hội, vì vậy các tác nhân gây căng thẳng thường có liên quan đến những chủ đề này. Nghiên cứu của chúng tôi sẽ góp phần làm rõ thêm thực trạng về mức độ căng thẳng tâm lý ở thanh thiếu niên lứa tuổi trung học cơ sở (cụ thể là học sinh lớp 9) và những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ căng thẳng tâm lý đó; từ 20 đó đề xuất những giải pháp khả thi nhằm hỗ trợ cải thiện và giải quyết thực trạng trên. Cơ sở lý luận về căng thẳng 2.
Các nghiên cứu nền tảng Bởi căng thẳng tâm lý là một vấn đề sức khoẻ tâm thần ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại của chúng ta ngày nay, thế nên nhiều nghiên cứu và lý thuyết đã được đề xuất nhằm lý giải và đưa ra các biện pháp ứng phó cho vấn đề này. Nghiên cứu của Claude Bernard: Lý thuyết nội môi Nhà sinh lý học người Pháp Claude Bernard (1813–1878) dường như là một trong những nhân vật có đóng góp nền tảng quan trọng nhất đối với sự phát triển của khái niệm căng thẳng. Lý thuyết của ông liên quan tới milieu intérieur, được dịch là “môi trường bên trong” hay nội môi (Bernard, 1872). Bernard cho rằng cơ thể không ngừng hoạt động để duy trì môi trường bên trong ổn định và cân bằng, đây chính là cơ chế cân bằng nội môi.
Với cơ chế này, cơ thể sẽ có khả năng tự bù trừ và cân bằng và từ đó có được trạng thái ổn định để đáp ứng với những thay đổi từ môi trường bên ngoài. Phát hiện này đã giúp chúng ta có được một thông tin quan trọng, đó là bằng cơ chế cân bằng nội môi mà con người có khả năng thay đổi và tự điều chỉnh để thích nghi với môi trường sống. Nghiên cứu của Walter Cannon: Sự cân bằng nội môi và cơ chế “chiến đấu hay bỏ chạy” (fight or fly) Mặc dù Claude Bernard là người đầu tiên thực hiện các nghiên cứu một cách có hệ thống về các cơ chế điều tiết liên quan đến việc ổn định nội môi, ý tưởng của ông đã không được thực hiện cho đến khi Walter Cannon (1871-1945) bắt đầu khám phá thêm các cơ chế này. Năm 1929, Cannon đã đề 21 xuất định nghĩa về sự cân bằng nội môi trong một nghiên cứu của mình, cùng với cách thức mà cân bằng nội môi được duy trì: thông qua các cơ quan cảm giác và thông qua phản hồi tiêu cực của hệ thống thần kinh tự chủ (hệ thần kinh thực vật) [8].