phần mở đầu. Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng là nghiên cứu định lượng (phương pháp GMM) với dữ liệu thứ cấp, dạng bảng (Panel Data). Ngoài ra, các kỹ thuật về thống kê mô tả, tổng hợp và so sánh cũng được đề cập để phân tích số liệu trong luận văn. Nội dung cuối cùng của chương 3, tác giả tổng hợp các biến trong mô hình nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Phần đầu của chương 4 tác giả phân tích, so sánh chỉ số Z-score của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu với một số quốc gia/khu vực khác trên thế giới; đồng thời thời đánh giá so sánh giữa các nhóm NHTM phân theo hình thức sở hữu (nhà nước/tư nhân), tình trạng niêm yết (có/không có niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam) và việc đáp ứng chuẩn Basel II tại 31/12/2019. Sau đó, tác giả tiến hành ước lượng mô hình hồi quy để đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến Z-score của các NHTM. Nội dung tiếp theo của chương 4, tác giả sẽ tập trung thảo luận về các biến có ý nghĩa thống kê từ mô hình hồi quy đạt được. Chương 5: Kết luận và kiến nghị - Chương 5 trình bày tóm tắt những kết quả đã đạt được từ mô hình nghiên cứu cuối cùng.
Trên cơ sở đó, tác giả sẽ tiến hành đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao tính ổn định tài chính cho các NHTM tại Việt Nam. Phần cuối cùng của chương, tác giả nêu lên một số hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai. Đóng góp của nghiên cứu 1. Đóng góp về lý luận 7 Đề tài làm rõ hơn về thực trạng bất ổn tài chính của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2019 (thông qua chỉ số Z-score).
Điểm mới của nghiên cứu này so với các nghiên cứu trước là tác giả nghiên cứu bổ sung trong giai đoạn dài hơn (12 năm) với dữ liệu cập nhật đến thời điểm gần nhất (năm 2019); đồng thời bổ sung thêm các biến đánh giá về ảnh hưởng của hình thức sở hữu (nhà nước/tư nhân) của các NHTM, sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam (đo lường qua giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán/GDP) và tác động của khủng hoảng tài chính 2007 – 2008 mà các nghiên cứu trước còn đề cập ở các phân tích riêng lẻ hoặc chưa tìm ra ý nghĩa thống kê để phân tích tổng hợp cho mô hình nghiên cứu lần này. Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy rõ hơn xu hướng/sự chênh lệch về mức độ ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam thông qua thang đo Z-score phân theo nhóm NHTM khác nhau về: hình thức sở hữu (nhà nước/tư nhân), tình trạng niêm yết (có/không có niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam) và việc đáp ứng chuẩn Basel II tại 31/12/2019. Đóng góp về giá trị thực tiễn Nghiên cứu có sự cập nhật về dữ liệu với thời gian nghiên cứu gần nhất (2008 – 2019). Do đó kết quả nghiên cứu sẽ có sự cập nhật mới hơn, sát với thời điểm hiện tại để có thể đưa ra đánh giá phù hợp nhất.
Kết quả nghiên cứu sẽ gợi mở những hàm ý chính sách quan trọng cho các cổ đông, nhà quản trị và các cơ quan quản lý nhà nước trong hoạch định chiến lược nhằm nâng cao tiềm lực tài chính của hệ thống NHTM Việt Nam nói riêng và ổn định hệ thống tài chính nói chung. 8 CHƯƠNG 2:CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BẤT ỔN TÀI CHÍNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG BẤT ỔN TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm về bất ổn tài chính 2. Khái niệm về ổn định tài chính, đặc điểm và vai trò của ổn định tài chính của nền kinh tế 2.
Khái niệm về ổn định tài chính Wellink (2002), hệ thống tài chính được xem là ổn định nếu đáp ứng các điều kiện: (i) có khả năng phân bổ hiệu quả các nguồn lực và hấp thụ những cú sốc; (ii) ngăn chặn những tác động xấu đến nền kinh tế và hệ thống tài chính; (iii) hệ thống tài chính đó không được là nguồn phát sinh các cú sốc. Large (2003) coi sự ổn định tài chính như việc duy trì sự tự tin trong hệ thống tài chính. Các mối đe dọa đối với sự ổn định tài chính có thể đến từ các cú sốc và lan truyền rộng ra, khi đó khả năng thanh toán và việc tôn trọng các điều khoản trong hợp đồng sẽ trở thành điều nghi vấn, không chắc chắn (tham khảo từ Nguyễn Minh Sáng và cộng sự (2019)). Theo Ngân hàng Trung ương Đức (2003), ổn định hệ thống tài chính nghĩa là một hệ thống tài chính mà trong đó các chủ thể - trung gian tài chính, thị trường tài chính và hạ tầng tài chính thực hiện tốt các chức năng của mình và có khả năng chống đỡ được các cú sốc tiềm ẩn.
Theo IMF (2004), ổn định tài chính được sử dụng để mô tả tình trạng hệ thống tài chính có thể thực hiện tốt các chức năng kinh tế chủ yếu như phân bổ nguồn lực, phân tán rủi ro, cũng như thực hiện chức năng thanh toán và thậm chí có thể duy trì 9 các chức năng đó ngay cả khi nền kinh tế gặp phải các cú sốc hoặc trong các thời kỳ tái cấu trúc mạnh mẽ. Jose Manuel (2007) định nghĩa ổn định tài chính là trạng thái mà hệ thống tài chính (bao gồm các trung gian tài chính, cấu trúc thị trường tài chính) có thể chịu đựng những cú sốc và có khả năng bộc lộ sớm sự mất cân bằng tài chính, do đó làm giảm sự gián đoạn của quy trình trung gian tài chính rất phức tạp đủ làm phân tán cơ hội đầu tư có lợi của những người nắm giữ tiền. Yayla & cộng sự (2008) quan điểm rằng ổn định tài chính nghĩa là hệ thống ngân hàng có khả năng thực hiện hết các trách nhiệm của nó hoặc theo cách khác nếu hệ thống đó có sự thiếu hụt lợi nhuận rất thấp trong bất kì hoàn cảnh nào. Một hệ thống tài chính được xem là ổn định khi không có sự xuất hiện của yếu tố dễ biến động, suy thoái hay khủng hoảng.
Ngân hàng Trung ương Châu Âu - ECB (2014) cho rằng, ổn định tài chính là trạng thái hệ thống tài chính (bao gồm các trung gian tài chính, các thị trường và hạ tầng cơ sở của thị trường) có khả năng hấp thụ được các cú sốc, giảm thiểu được những đổ vỡ nghiêm trọng có thể gây nguy hại đáng kể cho quá trình phân bổ nguồn lực đầu tư đến các kênh đầu tư hiệu quả hơn. ECB cũng cho rằng một hệ thống tài chính được cho là ổn định nếu hội tụ đủ các nội dung sau: (i) Hệ thống tài chính có thể phân bổ nguồn lực hiệu quả từ kênh tiết kiệm sang kênh đầu tư; (ii) Các rủi ro tài chính được đánh giá và xác định một cách chính xác và hợp lý để có thể kiểm soát tốt hơn; (iii) Hệ thống tài chính có thể hấp thụ được các cú sốc tài chính cũng như những biến động trong nền kinh tế thực. Tóm lại, có thể thấy rằng thuật ngữ ổn định tài chính chưa có định nghĩa một cách chính thức và thống nhất giữa các nghiên cứu cũng như quan điểm của các ngân hàng trung ương, tuy nhiên xét chung thì ổn định tài chính bao gồm các nội hàm sau: 1 Thứ nhất, các yếu tố chính của hệ thống tài chính như thị trường tài chính, các định chế tài chính, hạ tầng tài chính,…thực hiện các chức năng bình thường và thông suốt, hỗ trợ phân bổ có hiệu quả nguồn lực của nền kinh tế. Thứ hai, thị trường phản ánh đủ, chính xác các yếu tố rủi ro và có đủ công cụ để quản trị rủi ro này để góp phần ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống.
Đặc điểm của ổn định tài chính Buiter (2008) cho rằng thị trường tài chính được xem là ổn định nếu không có các yếu tố sau: (i) Bong bong giá tài sản; (ii) Tình trạng thiếu thanh khoản của các thể chế tài chính và thị trường tài chính đe dọa sự ổn định hệ thống; (iii) Tình trạng vỡ nợ của các thể chế tài chính đe dọa sự ổn định hệ thống. Vai trò của ổn định tài chính Sự ổn định của hệ thống tài chính là một điều kiện quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, hầu hết các giao dịch trong nền kinh tế thực được thực hiện thông qua hệ thống tài chính. Ổn định tài chính tạo ra môi trường thuận lợi cho cả nhà đầu tư và người gửi tiền, tăng hiệu quả của hoạt động trung gian tài chính, tăng các chức năng của các thị trường tài chính và cải thiện phân phối nguồn lực để phát triển hệ thống tài chính lành mạnh và minh bạch, giảm đi các cú sốc và rủi ro hệ thống. Khái niệm về bất ổn tài chính của nền kinh tế Theo Davies (2005), sự bất ổn tài chính là một rủi ro có thể làm tăng nguy cơ khủng hoảng tài chính.
Một sự sụp đổ lớn của hệ thống tài chính có thể xảy ra dẫn đến không thể cung cấp dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế hoặc phân bổ tín dụng đến các cơ hội đầu tư hiệu quả. Chant & cộng sự (2003) cho rằng bất ổn tài chính liên quan đến các điều kiện trong thị trường tài chính gây tổn thất hay đe dọa gây hại đến nền kinh tế thông qua cơ chế hoạt động của hệ thống tài chính. 1 Bất ổn tài chính gây tổn hại đến nền kinh tế thông quan nhiều cách khác nhau như làm suy yếu tình hình tài chính của các chủ thể tham gia, gián đoạn hoạt động của các định chế tài chính và trung gian tài chính. Mishkin (1999) cho rằng bất ổn tài chính xuất hiện khi nảy sinh các cú sốc tác động đến hệ thống tài chính và ảnh hưởng đến việc thực hiện tốt chức năng của nó trong việc phân phối tài chính.
Từ đó khiến cho những chủ thể tham gia vào hệ thống này không thực hiện được chức năng phân bổ vốn đầu tư hiệu quả như bình thường. Mishkin cho rằng, bất ổn tài chính xảy ra do năm nguyên nhân chính như sau: (i) sự sụt giảm giá trị bảng cân đối tài sản của khu vực tài chính; (ii) sự gia tăng của lãi suất; (iii) sự không chắc chắn tăng lên; (iv) sự sụt giảm giá trị bảng cân đối tài sản của khu vực phi tài chính do sự thay đổi giá của tài sản; và (v) sự mất cân đối tài chính của chính phủ.