ĐẶT VẤN ĐỀ Cây lúa (Oryra sativa L.) là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới: Lúa gạo, lúa mỳ và ngô. Sản phẩm lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng của nhiều quốc gia, là nhân tố quyết định đảm bảo an ninh lương thực, quyết định các chính sách phát triển nông nghiệp bền vững. Để đảm bảo cho cuộc sống con người trước tiên phải ổn định, an ninh lương thực là nhiệm vụ sống còn của mỗi quốc gia. Song, vấn đề đặt ra hiện nay là trong khi dân số thế giới và Việt Nam tiếp tục tăng nhưng diện tích đất dành cho việc trồng lúa lại ngày một thu hẹp, do ảnh hưởng của khí hậu, thiên tai.
Mặt khác tốc độ đô thị hóa đất trồng lúa đã nhường chỗ cho các công trình phúc lợi xã hội, như đường giao thông, khu công nghiệp và đất ở… Kéo theo là làm mất tính đồng bộ của hệ thống thủy lợi tưới, tiêu đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và sả lượng lúa. Trong bối cảnh đó, vấn đề lương thực được đặt ra như một mối đe dọa đến an ninh và ổn định lương thực của thế giới trong tương lai. Ngành sản xuất lúa gạo của Việt Nam đã chuyển từ một nước sản xuất tự cung tự cấp, thiếu đói sang một nước đảm bảo an ninh lương thực và vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới với sản lượng xuất khẩu hàng năm từ 4-5 triệu tấn gạo. Tuy nhiên, trong tương lai Việt Nam nhu cầu về lương thực vẫn phải tăng, theo mức độ tăng của dân số.
Dân số Việt Nam đã tăng 73% trong giai đoạn 1960-1990 và dự kiến tăng 62% trong ba thập kỷ tới. Theo dự báo của Ngân hàng thế giới (WB) đến năm 2025 dân số Việt nam sẽ đạt khoảng 116 triệu người và tiếp tục tăng với tốc độ 1,1% năm, lúc đó Việt Nam sẽ cần khoảng 33,6 tấn lương thực qui thóc để đảm bảo nhu cầu trong nước thêm vào đó là 4-5 triệu tấn gạo phục vụ cho xuất khẩu hàng năm. Không những đòi hỏi về năng suất, đồng thời áp lực về chất lượng gạo đáp ứng nhu cầu ngày càng cáo cũng là vấn đề thách thức rất lớn cho ngành nông nghiệp của nước ta. Huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình có diện tích tự nhiên là 19.
Huyện có 36 xã và 1 thị trấn. Dân số của huyện là: 223.179 người, diện tích đất cấy lúa 11500 ha (là huyện có diện tích trồng lúa lớn nhất trong tỉnh Thái Bình). Năng suất lúa của huyện luôn đứng hàng đầu trong những huyện trồng lúa của tỉnh Thái Bình. Những năm gần đây, các giống lúa chủ lực được gieo cấy trên địa 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bàn chủ yếu nhập nội từ Trung Quốc và giống sản xuất trong nước như Khang dân 18, Q5, BC 15, RVT, Thiên ưu 8… Các giống lúa thuần đang sản xuất tại địa phương có đặc điểm năng suất cao, ổn định, dễ chăm và thích ứng rộng nhưng chất lượng kém không phù hợp với nhu cầu hiện nay hoặc nhiễm nhiều sâu bệnh.
Xuất phát từ nhu cầu trên, huyện Kiến Xương đã và đang đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tiếp nhận và khảo nghiệm nhiều giống lúa thuần, có năng suất, chất lượng gạo ngon, đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Mặt khác số lượng giống đưa ra sản xuất đại trà ít. Độ bền vững của giống so với giống nhập nội chưa cao. Nghiên cứu giống riêng cho từng vùng sinh thái khác nhau còn hạn chế.
Công tác nghiên cứu về kỹ thuật cụ thể như mật độ - phân bón, sâu bệnh cho từng vùng, từng chân đất…. chưa được chú trọng, tùy tiện chủ yếu theo tập quán cũ. Do vậy đã dẫn đến năng suất, chất lượng chưa ổn định, phát sinh nhiều chi phí đầu vào cao và hiệu quả thấp. Vì vậy việc nghiên cứu hoàn thiện qui trình thâm canh tác giống lúa thuần mới có năng suất và chất lượng tốt phù hợp với vùng sản xuất của Kiến Xương là hướng đi hết sức đúng đắn và cần thiết.
Từ bối cảnh nêu trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của lượng phân bón và mật độ cấy đến sinh trưởng và năng suất giống lúa thuần ĐH11 tại Kiến Xương – Thái Bình’’. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀİ 1. Mục đích Xác định được lượng phân bón và mật độ cấy phù hợp nhất để giống lúa thuần ĐH11 đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất tại huyện Kiến Xương – Thái Bình. Yêu cầu của đề tài Đánh giá được một số đặc điểm nông sinh học, đặc điểm hình thái, mức độ nhiễm sâu bệnh và năng suất của giống lúa ĐH11 ở các mật độ cấy, mức phân bón khác nhau trong vụ Xuân và Mùa 2017 tại huyện Kiến Xương – Thái Bình.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1. Ý nghĩa khoa học Bổ sung các dẫn liệu cơ bản trong đánh giá về ảnh hưởng của mật độ và phân bón tới giống lúa thuần mới ĐH11. Kết quả đánh giá của đề tài sẽ góp phần định hướng cho sản xuất giống lúa thuần mới DH11 ở huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Ý nghĩa thực tiễn Xác định được mật độ và phân bón hợp lý của giống lúa thuần mới ĐH11 trong sản xuất, góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác giống lúa thuần mới ĐH11 đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LÚA GẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới Cây lúa là một trong những cây lương thực quan trọng đối với đời sống con người. Do vậy, nó được trồng và phân bố rộng khắp trên thế giới. Theo thống kê thì hiện nay trên thế giới có khoảng trên 100 quốc gia trồng và sản xuất lúa gạo, trong đó tập trung nhiều ở các nước Châu Á , 85% sản lượng lúa trên thế giới phụ thuộc vào 8 nước ở Châu Á: Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Banglades, Myamar và Nhật Bản (FAO, 1998). Đến năm 2014 (FAO, 2014), tổng diện tích trồng lúa trên toàn thế giới là 162,716 triệu ha, năng suất trung bình đạt 45,569 tấn/ha và tổng sản lượng lúa là 741,447 triệu tấn.
Nước có năng suất cao nhất là Trung Quốc với 68,115 tạ/ha, sau đến Nhật Bản với 66,978 tạ/ha. Xét về sản lượng thì Trung Quốc lại là nước đứng đầu đạt 208,239 triệu tấn, tiếp đó là Ấn Độ với sản lượng đạt 157,2 triệu tấn. Sản xuất lúa gạo của thế giới từ năm 2011 đến năm 2014 Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Diện tích (triệu ha) 162,713 162,264 162,622 162,716 Năng suất (tấn/ha) 44,348 45,174 44,996 45,569 Sản lượng (triệu tấn) 721,604 733,012 739,119 741,447 Nguồn: FAOSTAT.FAO Về diện tích, Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa cao nhất với 43,855 triệu ha, đứng thứ 2 là Trung Quốc với diện tích là 30,571 triệu ha (bảng 2. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới có xu hướng tăng dần nhưng tăng chậm, sản lượng năm 2011 là 721,604 triệu tấn và đến năm 2014 là 741,447 (tăng 2,75% so với năm 2011).
Tuy nhiên với nhu cầu thị trường gạo và tốc độ tăng dân số như hiện nay thì cần phải nâng cao hơn nữa năng suất, sản lượng và chất lượng gạo thì mới đảm bảo an ninh lương thực cho toàn xã hội. Theo đự đoán của FAO, trong vòng 30 năm tới, tổng sản lượng lúa trên toàn thế giới phải tăng được 56% mới đảm bảo được nhu cầu lương thực cho mọi người dân (FAO, 2014). 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sản xuất lúa gạo của 10 nƣớc đứng đầu thế giới Năm 2013 Năm 2014 Sản Diện Sản Quốc gia Năng Năng Diện tích lƣợng tích lƣợng suất suất (triệu ha) (triệu (triệu (triệu (tạ/ha) (tạ/ha) tấn) ha) tấn) Bangladesh 11,372 45,317 51,534 11,319 46,226 52,325 Brazil 2,353 50,071 11,782 2,34 52,013 12,175 T.Quốc 30,581 67,099 205,201 30,571 68,115 208,239 Ấn Độ 44,135 36,07 159,2 43,855 35,845 157,2 Indonesia 13,835 51,52 71,279 13,797 51,348 70,846 Nhật Bản 1,599 67,28 10,758 1,575 66,978 10,549 Myanmar 6,872 38,374 26,372 6,79 38,915 26,423 Philippin 4,746 38,852 18,439 4,739 40,019 18,967 Thái Lan 11,684 31,463 36,762 10,664 30,586 32,62 Việt Nam 7,902 55,728 44,04 7,816 57,538 44,974 Nguồn: FAOSTAT.FAO Về thị trường gạo thế giới, lượng gạo tiêu thụ khoảng 42 triệu tấn, tức giảm bớt 800.000 tấn hay 6% thấp hơn 2015, do nhu cầu ở châu Á giảm, sản xuất tại một số nước cải thiện và tiền tệ địa phương yếu kém.
Nhu cầu ở châu Phi tương đối ổn định. Sự xuất khẩu của các nước cung cấp giảm bớt như Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam và Mỹ. Chỉ có Pakistan xuất khẩu gia tăng. Tuy nhiên, số lượng trao đổi lớn hơn ở châu Âu, Nam Mỹ và Caribbean.
Xuất khẩu của các vùng khác như Úc, Brasil, Guyana và Myanmar giảm sút, trong khi Argentina, Cambodia, Trung Quốc, Paraguay, Uruguay và Pakistan gia tăng hơn năm trước. Giá gạo thế giới sau 2 năm giảm bắt đầu tăng lên vào tháng 5 do các nước xuất khẩu không còn nhiều gạo sẵn sàng và kéo dài đến tháng 8, và các nước nhập khẩu giới hạn mua thêm gạo. Tuy nhiên, giá gạo bình quân trong năm 2016 thấp hơn 2015 gần 4%. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo tại Việt Nam Nằm gần giữa vùng Đông Nam châu Á, khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc biệt là lượng bức xạ mặt trời cao - Việt Nam rất thích hợp với sự phát triển của cây lúa. Với nhiều đồng bằng châu thổ rộng lớn có lượng phù sa bồi đắp, tương đối bằng phẳng và màu mỡ từ Bắc tới Nam (đồng bằng châu thổ sông Hồng, đồng bằng châu thổ sông Cửu Long…) cùng một loạt châu thổ nhỏ hẹp ở ven sông, ven biển miền Trung. Cũng giống như các đồng bằng của các nước Đông Nam Á khác, đồng bằng châu thổ Việt Nam đều được dùng trong sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa. Chính vì thế, Việt Nam có thể là cái nôi hình thành cây lúa nước, từ lâu nó đã trở thành cây lương thực chủ yếu và có ý nghĩa to lớn trong nền kinh tế nước ta.