CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Một số định nghĩa • Vùng tiêu: Diện tích đất được khoanh vùng để tiêu nước cho cây trồng và các đối tượng cần tiêu nước. • Mô hình mưa tiêu thiết kế Trận mưa có thể xuất hiện trong vùng tiêu tương ứng với tần suất thiết kế. Mô hình trận mưa tiêu thiết kế bao gồm: số ngày mưa của trận mưa, tổng lượng mưa của cả trận mưa tương ứng với tần suất thiết kế và phân phối lượng mưa theo thời gian của trận mưa. Theo yêu cầu tính toán, mô hình trận mưa tiêu thiết kế được chia thành các loại cơ bản sau: a) Mô hình mưa ngày: Mô hình trận mưa có lượng mưa phân phối theo ngày; b) Mô hình mưa giờ: Mô hình trận mưa có lượng mưa phân phối theo giờ.
c) Mô hình mưa bất lợi: Mô hình trận mưa tiêu có ngày mưa lớn nhất nằm ở những ngày cuối. • Đối tượng cần tiêu nước Loại diện tích đất đại diện cho một nhóm đất trong hệ thống thủy lợi có yêu cầu tiêu nước tương tự nhau được lựa chọn để tính toán hệ số tiêu. Đối tượng cần tiêu nước còn gọi là hộ cần tiêu nước. Trong tiêu chuẩn này chia ra các loại đối tượng cần tiêu nước sau đây: a) Đất nông nghiệp: - Đất trồng lúa nước; - Đất trồng hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày; - Đất trồng cây ăn quả, cây lâu năm; b) Đất ở (đất thổ cư): - Đất ở nông thôn; 4 - Đất ở đô thị; c) Đất khu công nghiệp và làng nghề; d) Đất chuyên dùng trong các khu đô thị đã được cứng hoá phần lớn bề mặt; e) Đất công viên cây xanh; f) Đất sông suối; g) Đất ao, hồ (gọi chung là đất hồ): - Hồ tự nhiên chưa được cải tạo (còn gọi là hồ thông thường); - Hồ đã được cải tạo để chuyên nuôi trồng thủy sản (gọi chung là hồ nuôi thủy sản); - Hồ điều hoà; h) Các loại đất khác.2 Tổng quan lưu vực nghiên cứu 1.1 Vị trí địa lý Thành phố Hà Nội nằm chếch về phía Tây Bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, Hà Nội có vị trí từ 20o53’ đến 21o23’ vĩ Bắc và 105o53’ đến 106o02’ độ kinh Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình ở phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ ở phía Tây.
Từ tháng 8 năm 2008 toàn bộ hệ thống chính trị của thành phố Hà Nội sau hợp nhất, mở rộng địa giới hành chính thủ đô bao gồm: Thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Tây, Huyện Mê Linh- tỉnh Vĩnh Phúc và 04 xã thuộc huyện Lương Sơn, Hòa Bình. Thủ đô Hà Nội sau khi được mở rộng có diện tích tự nhiên 3.324,92 km2 nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng nhưng tập trung chủ yếu ở bên hữu ngạn lớn gấp 3 lần trước đây và đứng vào tốp 17 Thủ đô trên thế giới có diện tích rộng nhất; dân số thủ đô Hà Nội hiện nay sấp sỉ 10 triệu người gồm 30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã, 577 xã, phường, thị trấn. Hà Nội hiện nay vừa có núi, có đồi và địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, trong đó đồng bằng chiếm ¾ diện tích tự nhiên của thành phố. Độ cao trung bình của Hà Nội từ 5 đến 20m so với mặt nước biển, các đồi núi cao đều tập trung ở phía Bắc 5 và phía Tây phần lớn tập trung ở các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức.
Các đỉnh cao nhất là Ba Vì 1.281m, Gia Dê 707m, Chân Chim 462m, Thanh Lanh 427m và Thiên Trù 378m… Khu vực nội đô có một số gò đồi thâp như gò Đống Đa, núi Nùng. Thủ đô Hà Nội có 4 điểm cực là: • Cực Bắc là xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn. • Cực Tây là xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì. • Cực Nam là xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức.
• Cực Đông là xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm. 1 Vị trí địa lý, hành chính Hà Nội 7 1.2 Đặc điểm thủy văn Trong vùng nghiên cứu có mạng lưới thuỷ văn khá dày đặc, các sông chính chảy qua là sông Đuống, sông Nhuệ. Ngoài 3 sông kể trên còn có các con sông nhỏ, sông đào khác như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu v. Sông Hồng Sông lớn nhất là sông Hồng chảy qua Hà Nội, là sự hợp lưu của 3 dòng sông là sông Đà, sông Lô, sông Thao, ngoài ra còn chịu sự điều tiết của hồ Hoà Bình.
Chiều rộng của sông thay đổi từ 480m đến 1. Theo số liệu của trạm Hà Nội: lưu lượng nước lớn nhất 12.700m3/s (năm 2001), tốc độ lớn nhất 2,08m/s, lượng chất lơ lửng lớn nhất 13.200kg/s (14/7/2001), mực nước trung bình tháng lớn nhất là 9,79m (tháng 8/2002), mực nước thấp nhất 0,84m (tháng 2/2005), mực nước trung bình trong vòng 10 năm trở lại đây là 3,60m. 1 Đặc trưng mực nước trung bình các tháng của sông Hồngtại trạm Hà Nội từ năm 2001-2010 Đơn vị tính: cm Năm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tổng 2001 268 266 306 308 452 760 914 821 529 455 507 333 493,3 2002 295 286 293 302 491 679 819 979 488 397 343 315 473,9 2003 345 285 300 308 378 461 710 661 638 398 295 258 419,8 2004 345 285 300 308 378 461 710 661 638 398 295 258 419,8 2005 93 84 90 94 94 235 431 523 392 225 176 95 211 2006 209 194 178 206 265 388 674 587 342 416 250 183 324,3 2007 201 189 173 158 285 406 688 638 563 423 247 200 347,6 2008 193 172 176 180 289 424 743 704 567 411 554 234 387,3 2009 193 199 154 192 378 383 647 503 336 231 153 130 291,6 2010 123 134 97 102 215 261 384 471 385 280 170 179 233,4 TB 227 209 207 216 323 446 672 655 488 363 299 219 360,2 b. Sông Nhuệ Sông Nhuệ là chi lưu của sông Hồng, mực nước và lưu lượng phụ thuộc chủ yếu vào sông Hồng thông qua cống Thụy Phương.
Sông rộng trung bình 15 20m, nhỏ nhất là 13m (cầu Noi), lớn nhất là cầu Hà Đông 34m. Chiều dày lớp nước trong sông mùa khô trung bình 1,52m, lớn nhất là 3,46m. Lưu lượng dòng nhỏ nhất mùa khô là 4,08 17,44 8 m3/s. Chiều dày lớp bùn càng xa thượng lưu càng dày (Cầu Noi 0,48m; cầu Hà Đông 0,87m).
Thành phần bùn chủ yếu là bột sét, hệ số thấm của lớp bùn 0,012 (cầu Hà Đông) 0,0149m/ng (Cầu Noi). Sông Đuống Sông Đuống là một phân lưu của sông Hồng, bắt đầu từ làng Xuân Canh (Gia Lâm), sông có chiều dài 67 km, chảy theo hướng tây - đông rồi đổ vào sông Thái Bình ở Phả Lại. Đoạn sông nằm trên địa phận nghiên cứu có chiều dài 30 km, do lòng sông rộng và sâu, độ dốc lớn nên hàng năm sông Đuống chuyển một lượng nước và phù sa rất lớn từ sông Hồng sang sông Thái Bình. Dòng chảy trung bình nhiều năm đo ở Thượng Cát khoảng 915m3/s, đặc biệt là trận lũ năm 1971, lưu lượng đạt tới 9.
Trong mùa kiệt lưu lượng giảm xuống chỉ còn 91,5m3/s. Năm 2004 lưu lượng dòng chảy lớn nhất là 5. Mực nước cao nhất tại Bến Hồ là 8,40 m (năm 1971) và thấp nhất là 0,99m (năm 1963). Theo tài liệu thuỷ văn năm 2004, mực nước cao nhất là 8,31m (ngày 24/8), thấp nhất là 1,32m (ngày 6/4), trung bình là 2,78m.
Sông Tô Lịch Sông Tô Lịch bắt nguồn từ Hồ Tây chảy qua nội thành và nhập vào sông Nhuệ tại Thanh Trì, sông có chiều rộng nhất là 25,5 m, nhỏ nhất là 4,7 m, trung bình 10 ÷15 m. Trước kia sông có chiều dày lớp nước 1 ÷ 1,5 m và chiều dày lớp bùn khá lớn 0,43 ÷ 1,32 m, nhưng gần đây sông được cải tạo nên chiều dày lớp bùn nhỏ đi và chiều dày lớp nước tăng lên. Dọc hai bờ sông có rất nhiều cống nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp xả trực tiếp vào sông khoảng 25.000m3/ng khiến nước ô nhiễm nghiêm trọng. Hệ số thấm lớp bùn đáy sông thay đổi 0,0106 ÷ 0,023 m/s.
Lưu lượng mùa khô 2,339 ÷ 4,143 m3/s. Sông Kim Ngưu Sông Kim Ngưu bắt nguồn từ các hồ nội thành chảy theo hướng bắc nam tới Thanh Trì nhập với sông Tô Lịch, sông rộng 6 đến 12 m, chiều dày lớp nước trong sông 0,5 ÷ 1,35 m. Lưu lượng dòng về mùa khô 3,4 m3/s, chiều dày lớp bùn là 1m. Hệ số thấm là 0,0113 ÷ 0,013 m/ng.
Giống như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu cũng đã và đang được cải tạo, 9 nhưng nước thải do sinh hoạt hay nước thải công nghiệp vẫn thải trực tiếp xuống sông nên nước sông cũng bị ô nhiễm nặng.2 Các Hồ Vùng nghiên cứu có hàng trăm hồ lớn nhỏ: Hồ Tây, hồ Bảy Mẫu, hồ Hoàn Kiếm, hồ Thuyền Quang, hồ Văn Chương, hồ Giảng Võ, hồ Thủ Lệ và nhiều hồ nhỏ khác nhưng nay hồ đã bị lấp nhiều vì đô thị hoá. Hồ Tây Hồ Tây có diện tích mặt nước khoảng 526 ha, lớp nước hồ biến đổi từ 1,5 đến 2,3 m, kết quả quan trắc trạm thuộc mạng quan trắc chuyên Hà Nội cho thấy mực nước lớn nhất vào mùa mưa trung bình là 6,34 m, mực nước nhỏ nhất trung bình 5,56 m. Hồ Trúc Bạch Hồ Trúc Bạch có diện tích 26 ha, chiều dày lớp nước trung bình là 2,0 m. Hồ Quảng Bá Hồ Quảng Bá có chiều sâu lớn nhất khoảng 15,8 m.