Luận án tiến sĩ đảng lao động việt nam lãnh đạo vận động lực lượng thứ ba từ năm 1969 đến năm 1975

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đảng lao động việt nam lãnh đạo vận động lực lượng thứ ba từ năm 1969 đến năm 1975, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ lịch sử

2019

299
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

0.5. Đóng góp của luận án

0.6. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NHỮNG CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1. Những công trình nghiên cứu về lực lượng thứ ba

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI VIỆC VẬN ĐỘNG LỰC LƯỢNG THỨ BA GIAI ĐOẠN 1969 - 1973

2.1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng

2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử

2.1.2. Chủ trương vận động lực lượng thứ ba của Đảng

2.1.3. Đảng chỉ đạo thực hiện vận động lực lượng thứ ba từ năm 1969 đến tháng 1 - 1973

2.1.4. Vận động lực lượng thứ ba đấu tranh vì hòa bình và ký kết Hiệp định Paris

2.1.5. Vận động lực lượng thứ ba đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ và hòa hợp, hòa giải dân tộc

2.2. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: ĐẢNG VỚI VIỆC VẬN ĐỘNG LỰC LƯỢNG THỨ BA GIAI ĐOẠN 1973 - 1975

3.1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng

3.1.1. Hoàn cảnh lịch sử

3.1.2. Chủ trương của Đảng

3.1.3. Chỉ đạo vận động lực lượng thứ ba từ tháng 2 - 1973 đến tháng 4 - 1975

3.1.4. Vận động lực lượng thứ ba đòi thi hành Hiệp định Paris, thực hiện hòa bình và hòa giải dân tộc

3.1.5. Vận động lực lượng thứ ba hỗ trợ cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

3.2. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

4.1. Về hạn chế

4.2. Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng miền Nam, xác định đúng vai trò của lực lượng thứ ba để đề ra chủ trương vận động phù hợp

4.3. Linh hoạt và đa dạng trong các hình thức, phương pháp vận động lực lượng thứ ba

4.4. Chỉ đạo vận động lực lượng thứ ba trên cơ sở giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lực lượng này với lực lượng cách mạng

4.5. Xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng chuyên nghiệp cho công tác vận động lực lượng thứ ba

4.6. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan cách Đảng Lao Động Việt Nam vận động lực lượng thứ ba 1969 1975

Trong giai đoạn 1969-1975, Đảng Lao Động Việt Nam đã có những chủ trương và biện pháp vận động lực lượng thứ ba 1969-1975 nhằm tập hợp các tầng lớp yêu nước, trung lập, đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và hòa giải dân tộc. Đây là giai đoạn chuyển biến quan trọng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị miền Nam như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Chính sách Đảng Lao Động Việt Nam giai đoạn 1969-1975 đã xác định rõ vai trò của lực lượng thứ ba trong việc tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần làm suy yếu chính quyền Sài Gòn và thúc đẩy ký kết Hiệp định Paris. Tuy nhiên, trong quá trình vận động, Đảng cũng gặp phải những thách thức như nhận thức chậm về vai trò lực lượng thứ ba và biện pháp vận động chưa phù hợp ở một số thời điểm. Dù vậy, sự lãnh đạo của Đảng đã giúp lực lượng thứ ba ngày càng lớn mạnh, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.

1.1. Khái quát về lực lượng thứ ba và vai trò trong cách mạng Việt Nam

Lực lượng thứ ba là tập hợp các cá nhân, nhóm chính trị trung lập, không theo phe cộng sản hay chính quyền Sài Gòn, có tinh thần yêu nước và đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc. Họ hoạt động linh hoạt trong các thành phần xã hội, đặc biệt là giới trí thức, tôn giáo và các tầng lớp trung lưu. Vai trò của lực lượng này được Đảng Lao Động Việt Nam đánh giá là quan trọng trong việc mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, tạo sức ép chính trị lên Mỹ và chính quyền tay sai, góp phần thúc đẩy tiến trình hòa bình và thống nhất đất nước.

1.3. Thách thức trong vận động lực lượng thứ ba giai đoạn 1969 1975

Quá trình vận động lực lượng thứ ba gặp nhiều khó khăn do lực lượng này có tính chất đa dạng, phức tạp, bao gồm cả những phần tử cơ hội và tay sai. Đảng còn chậm nhận thức đầy đủ vai trò của lực lượng này, biện pháp vận động chưa linh hoạt, chưa đánh giá đúng mức đóng góp của lực lượng thứ ba. Ngoài ra, sự đàn áp của chính quyền Sài Gòn cũng gây khó khăn cho phong trào đấu tranh chính trị của lực lượng thứ ba.

II. Phương pháp vận động lực lượng thứ ba của Đảng Lao Động Việt Nam 1969 1973

Giai đoạn 1969-1973 là thời kỳ Đảng Lao Động Việt Nam tập trung vận động lực lượng thứ ba nhằm đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, thúc đẩy ký kết Hiệp định Paris. Đảng đã sử dụng nhiều phương pháp vận động đa dạng, linh hoạt, bao gồm cài cắm cán bộ cách mạng trong các tổ chức lực lượng thứ ba, tranh thủ các nhóm trí thức, tôn giáo, tổ chức các phong trào đấu tranh đòi hòa bình, dân chủ và hòa giải dân tộc. Qua đó, Đảng đã tạo ra sức ép chính trị lớn lên chính quyền Sài Gòn và Mỹ, góp phần quan trọng vào tiến trình đàm phán hòa bình.

2.1. Cách thức vận động lực lượng thứ ba đấu tranh vì hòa bình và ký kết Hiệp định Paris

Đảng chỉ đạo Trung ương Cục miền Nam và các cán bộ cách mạng vận động lực lượng thứ ba tổ chức các phong trào đấu tranh công khai đòi hòa bình, chống chiến tranh, đòi Mỹ rút quân và thực hiện các quyền dân sinh, dân chủ. Các tổ chức như Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam được thành lập để tập hợp lực lượng này. Đảng cũng khai thác điểm tương đồng giữa lực lượng thứ ba và lực lượng cách mạng để tranh thủ sự ủng hộ, tạo sức ép lên Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong đàm phán tại Hội nghị Paris.

2.2. Phương pháp tranh thủ lực lượng thứ ba đòi quyền dân sinh dân chủ và hòa giải dân tộc

Đảng vận động lực lượng thứ ba tham gia các phong trào đòi quyền dân sinh, dân chủ, hòa hợp và hòa giải dân tộc, đặc biệt là trong các đô thị lớn như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Các cán bộ cách mạng được cài cắm trong các tổ chức tôn giáo, trí thức, sinh viên để vận động, tuyên truyền, tổ chức các cuộc biểu tình, bãi khóa, hội thảo khoa học nhằm nâng cao nhận thức và sức mạnh đấu tranh của lực lượng thứ ba.

2.3. Tác động của chính sách vận động lực lượng thứ ba đến tiến trình hòa bình 1969 1973

Chính sách vận động lực lượng thứ ba đã góp phần làm suy yếu chính quyền Sài Gòn, tạo sức ép chính trị buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán. Phong trào đấu tranh của lực lượng thứ ba đã làm thay đổi cục diện chính trị miền Nam, thúc đẩy ký kết Hiệp định Paris năm 1973, mở ra bước ngoặt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

III. Chiến lược vận động lực lượng thứ ba của Đảng Lao Động Việt Nam giai đoạn 1973 1975

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Đảng Lao Động Việt Nam tiếp tục chỉ đạo vận động lực lượng thứ ba nhằm thực hiện hòa bình, hòa giải dân tộc và hỗ trợ Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Chiến lược vận động tập trung vào việc duy trì phong trào đấu tranh chính trị, củng cố liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của các tầng lớp xã hội để tạo thế và lực cho cuộc tổng tiến công cuối cùng, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

3.1. Chủ trương vận động lực lượng thứ ba đòi thi hành Hiệp định Paris và thực hiện hòa bình

Đảng chỉ đạo lực lượng thứ ba tiếp tục đấu tranh đòi Mỹ và chính quyền Sài Gòn thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, thực hiện hòa bình và hòa giải dân tộc. Các phong trào đấu tranh được tổ chức rộng khắp, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, tạo sức ép buộc chính quyền Sài Gòn phải nhượng bộ và thực hiện các cam kết trong Hiệp định.

3.2. Vận động lực lượng thứ ba hỗ trợ Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

Trong giai đoạn chuẩn bị và tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, Đảng vận động lực lượng thứ ba tham gia hỗ trợ về chính trị, tư tưởng và hậu cần. Lực lượng này đã góp phần làm suy yếu tinh thần chiến đấu của quân đội Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tổng tiến công giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

3.3. Tác động của chiến lược vận động lực lượng thứ ba đến kết quả cách mạng Việt Nam

Chiến lược vận động lực lượng thứ ba đã phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng cách mạng và lực lượng thứ ba đã làm cho chính quyền Sài Gòn suy sụp nhanh chóng, tạo điều kiện cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 thành công rực rỡ.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về vận động lực lượng thứ ba 1969 1975

Nghiên cứu về sự lãnh đạo vận động lực lượng thứ ba của Đảng Lao Động Việt Nam trong giai đoạn 1969-1975 cung cấp những bài học quý giá cho công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân hiện nay. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nhận thức đúng đắn vai trò của lực lượng thứ ba, vận dụng linh hoạt các phương pháp vận động, tranh thủ các lực lượng trung gian có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp to lớn, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế cần khắc phục như đánh giá đúng vai trò các lực lượng khác biệt, xây dựng đội ngũ cán bộ vận động chuyên nghiệp và tăng cường phối hợp hành động.

4.1. Kết quả nghiên cứu về vai trò và ảnh hưởng của lực lượng thứ ba trong cách mạng Việt Nam

Nghiên cứu đã khẳng định vai trò quan trọng của lực lượng thứ ba trong việc tạo sức ép chính trị, thúc đẩy ký kết Hiệp định Paris và góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Lực lượng này đã làm thay đổi cục diện chính trị miền Nam, tạo điều kiện cho sự phát triển của phong trào cách mạng và sự thống nhất đất nước.

4.2. Ứng dụng kinh nghiệm vận động lực lượng thứ ba trong công tác đại đoàn kết dân tộc hiện nay

Kinh nghiệm vận động lực lượng thứ ba cho thấy cần nhận thức đúng vai trò của các lực lượng trung gian, vận dụng linh hoạt các hình thức vận động, tranh thủ sự ủng hộ của các tầng lớp xã hội khác nhau. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ vận động chuyên nghiệp, tăng cường phối hợp giữa các lực lượng là yếu tố then chốt để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay.

V. Kết luận và triển vọng vận động lực lượng thứ ba trong tương lai của Đảng Lao Động Việt Nam

Qua nghiên cứu, có thể khẳng định sự lãnh đạo vận động lực lượng thứ ba của Đảng Lao Động Việt Nam trong giai đoạn 1969-1975 là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Mặc dù còn tồn tại một số hạn chế, nhưng kinh nghiệm vận động lực lượng thứ ba vẫn có giá trị tham khảo lớn cho công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân hiện nay. Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, việc vận dụng linh hoạt các bài học lịch sử này sẽ giúp Đảng tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết, huy động mọi nguồn lực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

5.1. Tổng kết ưu điểm và hạn chế trong vận động lực lượng thứ ba 1969 1975

Ưu điểm lớn nhất là Đảng đã nhận thức đúng vai trò của lực lượng thứ ba, vận dụng linh hoạt các phương pháp vận động, tranh thủ được đông đảo các tầng lớp yêu nước, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp. Hạn chế là có lúc nhận thức chậm, biện pháp vận động chưa phù hợp, chưa đánh giá đầy đủ đóng góp của lực lượng thứ ba, dẫn đến hiệu quả vận động chưa cao ở một số thời điểm.

5.2. Triển vọng vận động lực lượng thứ ba trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay

Mặc dù lực lượng thứ ba không còn tồn tại như trước, nhưng yêu cầu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vẫn rất cấp thiết. Việc vận dụng kinh nghiệm vận động lực lượng thứ ba trong quá khứ sẽ giúp Đảng tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng xã hội đa dạng, tạo nên sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước bền vững, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trong bối cảnh mới.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác liên quan đến luận án, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chƣơng, 8 tiết. Tổng quan những công trình có liên quan đến đề tài luận án Chương 2. Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng đối với việc vận động lực lƣợng thứ ba giai đoạn 1969 - 1973 Chương 3. Đảng với việc vận động lực lƣợng thứ ba giai đoạn 1973 - 1975 Chương 4.

Nhận xét và kinh nghiệm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN NHỮNG CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chủ đề nghiên cứu về sự ra đời, hoạt động, vai trò và đặc điểm của lực lƣợng thứ ba và sự lãnh đạo của Đảng LĐVN trong việc vận động, tranh thủ lực lƣợng thứ ba trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc là một trong những trọng tâm của sử học và các ngành khoa học có liên quan. Chính vì vậy, chủ đề này đã có nhiều nhà nghiên cứu và đƣợc công bố, ấn hành dƣới nhiều dạng: sách, bài báo khoa học, đề tài khoa học, luận án,… 1. Những công trình nghiên cứu về lực lượng thứ ba Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nƣớc, lực lƣợng thứ ba hình thành và phát triển, có những hoạt động tích cực trong các đô thị, góp phần làm rối loạn sào huyệt của đối phƣơng, góp phần từng bƣớc cô lập kẻ thù xâm lƣợc, những thế lực chiến tranh, có lợi cho cuộc đấu tranh độc lập dân tộc và thống nhất đất nƣớc.

Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trực tiếp về lực lƣợng thứ ba không nhiều. Về thời gian xuất hiện của lực lƣợng thứ ba, một số công trình khảo cứu về thời điểm xuất hiện, tên gọi của lực lƣợng thứ ba ở Việt Nam và các ý kiến trong các công trình đó khá khác nhau. Trong bài viết “How America Mocked the Ceasefire: Vietnam Since the Paris Agreement” [160], tác giả Andre Menras xác định phong trào hòa bình đấu tranh chống các chính sách độc tài của Ngô Đình Diệm hình thành và lớn mạnh từ năm 1963 là lực lƣợng thứ ba [160, tr. Công trình “Vietnam: The Unheard Voices” của tác giả Don Luce và John Sommers [162] và bài viết “They Call it a Third Solution” của tác giả Alfred Hassler [159] đều xác định tên gọi “lực lƣợng thứ ba” đã đƣợc nhiều ngƣời trong phong trào đô thị miền Nam dùng từ năm 1965.

Bài báo “Kỷ niệm 36 năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30 - 4 - 1975/2011): Đóng góp của “thành phần thứ ba” cho ngày chiến thắng” của Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam [109] đã đề cập đến sự ra đời và những đóng góp cơ bản của lực lƣợng thứ ba. Bài báo đã nhấn mạnh đến việc bà Nguyễn Thị Bình (Bộ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trƣởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) có ý kiến: Lực lƣợng thứ ba ra đời trong thời gian đàm phán Hiệp định Paris, tuy nhiên bà không chỉ ra một thời điểm cụ thể [109, tr. Bên cạnh các công trình đề cập đến tên gọi, thời gian xuất hiện của lực lƣợng thứ ba, nhiều nhà nghiên cứu còn đề cập đến vai trò, vị trí và đóng góp của lực lƣợng thứ ba trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc. Bài viết “Những trăn trở của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt: Đại đoàn kết và hòa hợp dân tộc” [118] viết về sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc, nhất là giai đoạn “Đánh cho Ngụy nhào”, trong đó, Cố Thủ tƣớng Võ Văn Kiệt đã nhận xét về đóng góp quan trọng của lực lƣợng thứ ba góp phần vào tiến trình giải phóng miền Nam, thống nhất đất nƣớc trong thời gian sau Hiệp định Paris về Việt Nam 1973 đƣợc ký kết.

Ông nhấn mạnh “phải nhìn nhận công lao, sự đóng góp to lớn của các tầng lớp ngƣời Việt yêu nƣớc từng sống trong lòng chế độ cũ, hiện ở trong nƣớc hay ở bên ngoài. Bản thân tôi cùng với anh em đƣợc giao tiếp quản Sài Gòn năm 1975, một Sài Gòn nguyên vẹn sau một cuộc chiến tranh nhƣ vậy, tôi nghĩ không thể không nói đến vai trò của nội các Dƣơng Văn Minh và các lực lƣợng chính trị đối lập với Mỹ - Thiệu, có quan hệ với chính phủ Dƣơng Văn Minh lúc bấy giờ” [118, tr. Trong bài viết “Vài nhận xét về „thành phần thứ ba‟ và „hòa hợp, hòa giải dân tộc‟” [114], tác giả Ngô Vĩnh Long làm sáng tỏ những chỗ “nhạy cảm”, điểm “ngại” của các nhà nghiên cứu trong nƣớc (Việt Nam) khi đề cập đến vai trò, vị trí và đóng góp của lực lƣợng thứ ba đối với vấn đề đoàn kết dân tộc và việc xây dựng một xã hội dân chủ, hài hòa. Trên cơ sở trình bày những quan điểm về tên gọi và thời điểm xuất hiện lực lƣợng thứ ba ở miền Nam Việt Nam của các học giả trong và ngoài nƣớc, khái quát sự phát triển của vài nhóm trong thành phần lực lƣợng thứ ba, tác giả Ngô Vĩnh Long đã làm rõ một số đóng góp của lực lƣợng này trong “giai đoạn” 1968 - 1972 và 1973 - 1975.

Đó là sự đóng góp quan trọng cho giải pháp hòa bình trong quá trình đàm phán, góp phần dẫn đến “thất bại và sự chống đối của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới, buộc Henry Kissinger phải trở lại bàn đàm bán và ký Hiệp định Paris” [114, tr. 17] và “đóng vai trò hòa giải, hòa hợp dân tộc” [114, tr. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong cuốn sách “Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh 60 năm tiếp bƣớc con đƣờng Cách mạng tháng Tám (1945 - 2005)”, tác giả Hồ Sơn Phấn có bài viết “Tìm hiểu vai trò của “lực lượng thứ ba” ở Sài Gòn - Nam Bộ hoạt động cho độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội (1973 - 1975)” [7, tr. Bài viết làm rõ những hoạt động nổi bật của lực lƣợng thứ ba trong đấu tranh đòi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Tác giả cho rằng, “lực lƣợng thứ ba đã phần nào đóng góp sức mình cùng quân dân cả nƣớc đã làm nên chiến thắng mùa xuân 1975 oanh liệt” [7, tr. Bài viết “Phong trào đô thị và lực lượng chính trị thứ ba với đàm phán Paris” của tác giả Ngô Bá Thành trong công trình “Về Phong trào đô thị miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ 1954 - 1975”, NXB Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh [20, tr. 35 - 45] đã phác họa những nét cơ bản nhất về hoạt động và đóng góp của phong trào đô thị và lực lƣợng thứ ba trên mặt trận chính trị ở miền Nam và tại Hội nghị Paris về Việt Nam. Tác giả nhấn mạnh: Phong trào đô thị và lực lƣợng thứ ba “là phong trào đấu tranh chính trị đƣợc sinh ra và trƣởng thành trong một hoàn cảnh khá đặc thù” [20, tr.

35] và “đã trở thành một hạt nhân tích cực trong đời sống chính trị, cổ vũ phong trào đấu tranh đòi độc lập, tự do và thống nhất tại các đô thị miền Nam” [20, tr. Chính trong môi trƣờng đấu tranh vì mục tiêu “độc lập, tự do, hòa bình, hòa giải và hòa hợp dân tộc, thống nhất Tổ quốc” [20, tr. 35], phong trào của lực lƣợng thứ ba đã có những “đóng góp xứng đáng vào quá trình phối hợp giữa mặt trận chính trị và mặt trận ngoại giao cả trƣớc, trong đàm phán và sau khi ký Hiệp định Paris” [20, tr. Đồng thời tác giả nhấn mạnh: “Hiệp định Paris là một thắng lợi chính trị quan trọng có ý nghĩa nhiều mặt đối với lực lƣợng thứ ba: Hiệp định đã xác nhận thực tế ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lƣợng chính trị”.

Bên cạnh đó, tác giả nhận định: Lực lƣợng thứ ba “đã công nhận về mặt pháp lý vai trò” của họ “trên thế bình đẳng với “hai phe miền Nam” trong Hội đồng quốc gia hòa hợp và hòa giải dân tộc để đôn đốc thi hành Hiệp định và tổ chức tổng tuyển cử” [20, tr. Bài viết “Lực lượng thứ ba và những đóng góp cho sự nghiệp thống nhất đất nước (1969 - 1975)” của tác giả Hồ Khang [106] thể hiện góc nhìn đa dạng xung quanh các quan điểm nói về tên gọi và quá trình hình thành lực lƣợng thứ ba, cũng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhƣ những nhận định về lực lƣợng này trong các văn kiện của Đảng LĐVN giai đoạn 1969 – 1973; khái quát những hoạt động, phong trào tiêu biểu của lực lƣợng thứ ba và đóng góp của lực lƣợng này trong các giai đoạn đấu tranh đòi ký kết Hiệp định Paris, lập lại hòa bình và thực hiện hòa hợp dân tộc, đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris, đòi hòa bình, hòa giải dân tộc và trong và đấu tranh hỗ trợ cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Đặc biệt, tác giả đƣa ra nhận định đã đến lúc cần có những đánh giá công tâm và ghi nhận xác đáng về đóng góp và vai trò của lực lƣợng thứ ba trong cuộc chiến tranh Việt Nam để hƣớng tới sự hòa hợp, hòa giải dân tộc một cách chân thành, thực sự. Trong công trình “The Third Force in the Viet Nam war: The elusive search for peace 1954 - 1975” [172], tác giả Sophie Quinn - Judge đã đề cập về lực lƣợng thứ ba với khía cạnh những đề xuất và hy vọng về con đƣờng thống nhất đất nƣớc bằng giải pháp đàm phán, hòa bình thay cho xung đột quân sự.

Phản đối ý tƣởng rằng chiến tranh giữa Hà Nội và Mỹ là không thể tránh khỏi, tác giả dõi theo các chƣơng trình của miền Bắc Việt Nam để đi đến thống nhất đất nƣớc từ cuộc đàm phán Giơnevơ năm 1954 cho đến sự sụp đổ cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) năm 1975. Bên cạnh đó, tác giả còn xem xét các cách thức mà các nhóm và nhân vật ở miền Nam Việt Nam xây dựng các đề xuất hòa bình của riêng lực lƣợng thứ ba, với hy vọng rằng ngƣời Việt Nam có thể giải quyết những bất đồng của họ bằng cách tiến hành các cuộc đàm phán mà không có sự can thiệp từ bên ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ