phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đảm bảo đời sống của ngƣời lao động trong các khu công nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng đảm bảo đời sống của ngƣời lao động trong các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo đời sống của ngƣời lao động trong các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh 6 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khu công nghiệp 1. Khái niệm Khu công nghiệp đã hình thành và phát triển hơn 100 năm nay, tuy nhiên khái niệm về khu công nghiệp chƣa thực sự có sự thống nhất và còn có những quan niệm khác nhau: Theo quan niệm của các nhà quản lý Thái Lan và một số nhà kinh tế học các nƣớc công nghiệp thế hệ thứ hai Đông Nam Á nhƣ Malaysia, Philippines thì khu công nghiệp là thành phố công nghiệp, một cộng đồng hoàn chỉnh, đƣợc quy hoạch đầy đủ các tiện nghi đa dạng, có hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn hảo, hệ thống xử lý nƣớc thải, hệ thống thƣơng mại, hệ thống thông tin liên lạc, bệnh viện, trƣờng học và khu chung cƣ,. [1] Theo Hiệp hội thế giới về KCN thì KCN là tất cả các khu vực đƣợc chính phủ các nƣớc cho phép thành lập và hoạt động nhƣ cảng tự do, khu mậu dịch tự do, KCN tự do hoặc bất kỳ khu vực ngoại thƣơng hoặc khu vực khác đƣợc tổ chức này công nhận.
Nhƣ vậy, quan niệm này rất rộng và nó đòi hỏi các chính sách quản lý có độ linh hoạt cao và mức độ "tự do hoá" khá lớn. Cũng có quan niệm cho rằng KCN là một khu vực phụ không nhất thiết phải có sự ngăn cách biệt lập và trên thực tế có nhiều tập đoàn và tổ hợp công nghệ với một chuỗi đồ sộ các xí nghiệp, nhà máy liên kết với nhau trên một khu vực rộng lớn và việc bố trí mặt bằng các khu sản xuất trên quy mô lớn nhƣ vậy hình thành một loại hình tổ chức mới của KCN mà không nhất thiết phải có một quy chế đặc thù. Theo Nghị định 36-CP ngày 24 tháng 4 năm 1997 của Chính phủ ban hành Quy chế KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao: KCN đƣợc xác định là khu tập trung chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới xác định, không có dân cƣ sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập. KCN ở Việt Nam là khu vực dành cho phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể nhằm đảm bảo đƣợc sự hài hòa và cân bằng tƣơng đối giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trƣờng.
Thực tiễn phát triển KCN ở Việt Nam cho thấy KCN là một loại hình kinh tế đặc biệt, có tính đặc thù là sử dụng nhiều đất đai, thời gian tồn tại lâu dài, có ảnh hƣởng đến các vấn đề kinh tế xã hội và môi trƣờng. Từ việc nghiên cứu và tham khảo các tài liệu trong nƣớc và của nƣớc ngoài, có thể đi đến một khái niệm mang tính tổng quát về KCN, phù hợp với điều kiện của Việt Nam: KCN là khu tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, phục vụ cho tiêu dung trong nước, xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ thành lập, đươc hưởng những ưu đãi thích hợp về sản xuất, xuất khẩu hàng hóa, có cơ sở hạ tầng thuận lợi, đảm bảo phục vụ cho việc sản xuất và cung cấp các dịch vụ liên quan, bảo đảm sự phát triển bền vững. Vai trò của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội - Vai trò tích cực 8 z + Các KCN huy động và sử dụng hiệu quả lƣợng vốn đầu tƣ lớn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nƣớc, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc. + Các KCN có đóng góp quan trọng vào phát triển ngành công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phƣơng và cả nƣớc theo hƣớng CNH, HĐH.
+ Các KCN góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ của ngƣời lao động trong KCN và địa phƣơng có KCN. + Các KCN là công cụ hữu hiệu để hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. + Các KCN góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trƣờng sinh thái. - Ảnh hưởng tiêu cực + Về vấn đề lao động, việc làm và thu nhập của dân cƣ nơi có khu công nghiệp: việc thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp đã khiến nhiều ngƣời nông dân không có việc làm, chủ yếu là lao động nông nghiệp chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của các doanh nghiệp KCN trong việc tuyển dụng lao động.
Số lao động nông nghiệp trên 35 tuổi có nguy cơ bị thất nghiệp cao nhất vì độ tuổi này thƣờng quá tuổi tuyển dụng, trình độ học vấn thấp và khó thích nghi với công việc mới trong khi doanh nghiệp lại chủ yếu tuyển lao động trẻ, có tay nghề. Vì vậy mà ảnh hƣởng trực tiếp đến thu nhập của họ. + Về xã hội, văn hóa: khi khu công nghiệp đƣợc thành lập thì có hàng ngàn, hàng vạn công nhân từ những địa phƣơng khác đến làm việc và sinh sống khiến môi trƣờng sinh hoạt của ngƣời dân thay đổi, nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội nhƣ: trộm cắp, cƣớp giật, đánh nhau. 9 z + Về môi trƣờng: việc triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp trong đó có các trạm xử lý chất thải tập trung thƣờng chậm, đã ảnh hƣởng tiêu cực đến môi trƣờng sinh thái.
Bên cạnh đó, các dịch vụ xã hội theo KCN phát triển mạnh nhƣng mang tính tự phát cũng là tác nhân quan trọng ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng sinh thái tại các khu vực có KCN. Đời sống của ngƣời lao động trong các khu công nghiệp 1. Khái niệm Đời sống của con ngƣời nói chung và của ngƣời lao động trong các KCN nói riêng bao gồm hai mặt song song hỗ trợ cho nhau đó là đời sống vật chất và đời sống tinh thần. - Đời sống vật chất bao gồm các thành tố chủ yếu: ăn, ở, mặc, đi lại… + Ăn: đây là nhu cầu thiết yếu nhất đối với con ngƣời để tồn tại và làm việc.
Mức độ đáp ứng nhu cầu này liên quan đến số lƣợng calo đảm bảo cho nhu cầu tái sản xuất sức lao động. Ngƣời Việt Nam thƣờng có một bữa ăn sáng và hai bữa ăn chính. Ngoài ăn sáng và ăn tối do ngƣời lao động tự tổ chức, bữa ăn trƣa, ăn giữa ca rất quan trọng. Do điều kiện môi trƣờng, do yêu cầu sản xuất, hầu hết các doanh nghiệp khu công nghiệp đều có chế độ và có tổ chức bữa ăn trƣa, ăn giữa ca cho ngƣời lao động.
+ Nhà ở: là nhu cầu cấp thiết, là nơi sinh hoạt, nghỉ ngơi của ngƣời lao động, giúp ngƣời lao động phục hồi sức khỏe, tái sản xuất sức lao động. Yêu cầu về chỗ ở của ngƣời lao động liên quan đến số lƣợng nhà ở (tính theo m2/ngƣời) và chất lƣợng nhà ở. + Đi lại: nhiều lao động làm việc trong các khu công nghiệp tập trung thƣờng ở xa khu dân cƣ. Để đảm bảo thời gian lao động sản xuất, ngƣời lao động thƣờng phải trải qua một quãng đƣờng dài và có nhiều phức tạp từ nơi ở đến nơi làm việc, nên thƣờng mất nhiều thời gian.
Số lƣợng ngƣời lao động làm việc tại các khu công nghiệp thƣờng rất đông, sử dụng nhiều 10 z phƣơng tiện đến nơi làm việc, nên dễ bị kẹt xe, càng làm cho chi phí thời gian cho đi lại nhiều hơn. Một số doanh nghiệp tổ chức xe đƣa đón công nhân, qua đó giảm chi phí cá nhân, làm tăng thêm thu nhập thực tế của họ. - Đời sống tinh thần bao gồm các thành tố: nhu cầu học tập, nâng cao trình độ tay nghề, chuyên môn, nghiệp vụ, nhu cầu giải trí, nhu cầu giao tiếp xã hội. + Nhu cầu học tập: Học tập là chìa khóa để tiếp nhận tri thức khoa học công nghệ hiện đại, trình độ học vấn của ngƣời lao động càng cao thì họ càng có điều kiện tiếp nhận công nghệ hiện đại, ứng dụng nó vào cuộc sống, vào quá trình sản xuất và do đó càng có cơ hội tìm kiếm việc làm, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập và thích ứng với sự chuyển đổi nghề nghiệp.
+ Nhu cầu nâng cao trình độ tay nghề, chuyên môn, nghiệp vụ: Việc đào tạo nâng cao trình độ tay nghề cho ngƣời lao động không chỉ là yêu cầu của các doanh nghiệp mà còn là nhu cầu của ngƣời lao động. Để có thể lao động sản xuất dài hạn, ổn định và tăng thu nhập, nâng cao chất lƣợng cuộc sống, ngƣời lao động có nhu cầu nâng cao trình độ kiến thức, học nghề nâng cao, học nghề mới. Việc đáp ứng nhu cầu nâng cao trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ không chỉ làm tăng thu nhập thực tế mà còn góp phần thỏa mãn nhu cầu tinh thần của họ. + Nhu cầu giải trí: Ngƣời lao động các khu công nghiệp ngoài giờ làm việc tại các doanh nghiệp, thời gian còn lại dành cho sinh hoạt cá nhân, nghỉ ngơi và giải trí.
Các kênh truyền thông ngoài việc cung cấp thông tin cho ngƣời lao động, còn là phƣơng tiện giải trí quan trọng. Các thiết chế văn hóa công cộng cũng có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa khu công nghiệp, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt công cộng của ngƣời lao động. Từ thu nhập của mình, việc sử dụng các phƣơng tiện đó là một yếu tố tác động đến đảm bảo đời sống tinh thần của ngƣời lao động. 11 z + Nhu cầu giao tiếp xã hội: Hầu hết ngƣời lao động trong các khu công nghiệp thƣờng phải làm thêm giờ, nên thời gian giao tiếp với xã hội của họ là không nhiều.
Ngƣời lao động luôn có nhu cầu hòa mình với môi trƣờng xung quanh, muốn đƣợc giao lƣu, chia sẻ. Do vậy mà giải quyết vấn đề này sẽ có tác động tích cực đến tinh thần ngƣời lao động.