Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng tần suất và cường độ của các hiện tượng thủy văn cực đoan trên toàn thế giới, trong đó dải đất duyên hải miền Trung Việt Nam là một trong những khu vực chịu tổn thương nặng nề nhất. Hệ thống lưu vực sông Trà Khúc và sông Vệ thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có tổng diện tích tự nhiên khoảng 4.500 km², bao gồm lưu vực sông Trà Khúc rộng 3.240 km² với chiều dài dòng chính 135 km và lưu vực sông Vệ rộng 1.260 km² với chiều dài 91 km. Đây là vùng kinh tế - sinh thái trọng điểm nhưng liên tục đối mặt với áp lực khốc liệt từ thiên tai khí tượng thủy văn. Trong giai đoạn lịch sử, các đợt hạn hán nghiêm trọng đã liên tiếp xuất hiện vào các năm 1994, 1997, 2005, 2006 và 2012; đồng thời các trận lũ lịch sử cũng diễn biến dị thường, điển hình là trận đại hồng thủy ngày 19/11/2013 khiến mực nước sông Trà Khúc vượt báo động 3 tới 2,3 m và sông Vệ vượt báo động 3 tới 1,5 m, gây ngập lụt diện rộng tại các huyện Ba Tơ, Nghĩa Hành và Tư Nghĩa.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá sự biến động tài nguyên nước mặt và dự báo xu thế dòng chảy trên lưu vực sông Trà Khúc – sông Vệ dưới tác động của biến đổi khí hậu theo các kịch bản phát thải khí nhà kính. Phạm vi không gian của đề tài bao phủ toàn bộ mạng lưới thủy văn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và một phần huyện Kon Plông thuộc tỉnh Kon Tum, với chuỗi dữ liệu quan trắc khí tượng thủy văn từ năm 1976 đến năm 2013 cùng các mốc dự báo tương lai đến năm 2020, 2050 và 2100. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp hệ thống cơ sở dữ liệu định lượng chuẩn xác, phục vụ công tác quy hoạch nguồn nước, bảo vệ 49,8% diện tích che phủ rừng và nâng cao năng lực chủ động ứng phó thiên tai cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cân bằng nước lưu vực sông và lý thuyết biến đổi khí hậu toàn cầu theo các tiêu chuẩn đánh giá của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu. Các khái niệm học thuật then chốt được tích hợp xuyên suốt bao gồm: tài nguyên nước mặt, đường quá trình dòng chảy, chỉ số nhạy cảm thủy văn, kịch bản phát thải trung bình B2, kịch bản phát thải cao A2 và hệ số hiệu quả mô phỏng Nash-Sutcliffe. Về mặt mô hình hóa, nghiên cứu ứng dụng mô hình thủy văn phân bố dòng chảy BTOPMC do Đại học Yamanashi (Nhật Bản) phát triển. Đây là mô hình bán phân bố dựa trên cấu trúc địa hình số, mô phỏng cơ chế bốc thoát hơi nước, dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm dựa trên khái niệm chỉ số địa hình, kết hợp phương pháp diễn toán dòng chảy Muskingum-Cunge trên toàn mạng lưới sông ngòi có độ dốc trung bình 18,5%.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào phục vụ mô hình bao gồm chuỗi quan trắc khí tượng thủy văn 37 năm liên tục (từ năm 1977 đến năm 2013) thu thập từ 10 trạm khí tượng thủy văn trong khu vực, tiêu biểu là 2 trạm khí tượng Ba Tơ, Quảng Ngãi và 4 trạm thủy văn Sơn Giang, An Chỉ, Trà Khúc, Sông Vệ. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ chuỗi số liệu ngày và tháng với mật độ quan trắc đồng bộ trên diện tích lưu vực hơn 4.500 km². Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn thể theo chuỗi thời gian lịch sử dài hạn nhằm bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho mọi chu kỳ thời tiết khô hạn và lũ lụt.

Hệ thống phương pháp phân tích kết hợp chặt chẽ giữa 4 công cụ chuyên sâu:

  • Phương pháp thống kê toán học thủy văn nhằm xử lý xu thế biến động của các biến số nhiệt độ và lượng mưa.
  • Phương pháp Hệ thông tin địa lý (GIS) kết hợp mô hình số độ cao DEM và bản đồ phân loại thổ nhưỡng để xử lý 294.116,12 ha đất lâm nghiệp và hiện trạng thảm phủ bề mặt.
  • Phương pháp mô hình toán BTOPMC với các bước hiệu chỉnh thông số tự động và thủ công cho giai đoạn 1993 - 1994, kiểm định mô hình cho giai đoạn 1998 - 1999 tại trạm thủy văn Sơn Giang. Lý do lựa chọn mô hình phân bố BTOPMC là do địa hình lưu vực có sự phân cắt mạnh mẽ, chênh lệch độ cao từ trên 1.000 m ở miền núi phía Tây xuống dưới 20 m ở đồng bằng phía Đông, nơi các mô hình thông số tập trung truyền thống không thể phản ánh chính xác sự phân tán không gian của dòng chảy.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy luật phân bố mưa và nhiệt độ trong quá khứ phản ánh rõ nét tính phân hóa cực đoan. Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tại khu vực Nam Trung Bộ đã tăng khoảng 0,3°C đến 0,6°C. Lượng mưa trung bình năm biến động rất lớn theo không gian: trạm Trà Bồng đạt 3.559 mm/năm trong khi khu vực ven biển Sa Huỳnh chỉ đạt 1.821 mm/năm (thấp hơn khoảng 48,8%). Lượng mưa mùa mưa tập trung cao độ từ tháng IX đến tháng XII, chiếm từ 45% đến 55% tổng lượng mưa cả năm; trong đó tháng X và tháng XI là thời kỳ mưa lớn nhất, chiếm tới 24,6% tổng lượng mưa năm. Ngược lại, mùa ít mưa kéo dài từ tháng I đến tháng VII, đặc biệt giai đoạn tháng II đến tháng IV lượng mưa chỉ chiếm 4,5% đến 5,9% tổng lượng cả năm.

Thứ hai, mô hình BTOPMC đạt độ tin cậy rất cao trong việc mô phỏng dòng chảy lưu vực sông Trà Khúc. Kết quả so sánh giữa lưu lượng tính toán và lưu lượng thực đo theo chỉ số Nash-Sutcliffe đạt trên 0,80 trong cả giai đoạn hiệu chỉnh (1993 - 1994) và kiểm định (1998 - 1999) tại trạm Sơn Giang.

Thứ ba, dự báo dòng chảy tương lai theo các kịch bản biến đổi khí hậu B2 và A2 cho thấy xu thế biến động sâu sắc tại các mốc năm 2020, 2050 và 2100. Tổng lượng dòng chảy năm có xu thế tăng nhẹ từ 3,5% đến 8,2%, tuy nhiên phân phối dòng chảy theo mùa có sự phân hóa trầm trọng:

  • Dòng chảy mùa lũ (tháng IX - XII) tăng mạnh từ 5,2% đến 14,8%, làm gia tăng đáng kể đỉnh lũ thiết kế và nguy cơ ngập lụt lưu vực.
  • Dòng chảy mùa cạn (tháng II - V) suy giảm nghiêm trọng từ 6,5% đến 18,2% so với thời kỳ chuẩn 1980 - 1999, làm gia tăng nguy cơ kiệt dòng và hạn hán sinh thái.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của sự phân hóa dòng chảy bắt nguồn từ sự tương tác giữa địa hình đón gió Trường Sơn và gió mùa mùa đông gây mưa cực đoan, cùng hiệu ứng phơn Tây Nam khô nóng trong mùa kiệt. Bên cạnh đó, thảm phủ rừng tự nhiên giảm sút (tổng diện tích che phủ rừng đạt 49,8% nhưng chủ yếu là rừng trồng keo và bạch đàn có khả năng giữ nước hạn chế) khiến lưu tốc dòng chảy mặt mùa mưa tăng nhanh và dòng ngầm mùa kiệt bị suy giảm. Khi đối chiếu với các nghiên cứu thủy văn trên lưu vực sông Srêpôk hay sông Hương, quy luật suy giảm dòng chảy mùa kiệt từ 2,8% đến 7,6% và gia tăng dòng chảy lũ đều có sự tương đồng rõ nét. Trong báo cáo kỹ thuật, toàn bộ các kết quả này được trực quan hóa thông qua hệ thống bản đồ phân vùng mưa GIS, biểu đồ đường quá trình lưu lượng đỉnh lũ và các bảng ma trận so sánh tổng lượng nước theo từng kịch bản phát thải.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giảm thiểu thiệt hại và quản lý bền vững tài nguyên nước lưu vực sông Trà Khúc - sông Vệ, hệ thống giải pháp cụ thể được đề xuất như sau:

  • Hiện đại hóa mạng lưới trạm quan trắc cảnh báo sớm: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi chủ trì nâng cấp, bổ sung 12 trạm đo mưa tự động và 3 trạm quan trắc mực nước tự động tại khu vực thượng lưu huyện Ba Tơ và Sơn Hà, hướng đến mục tiêu nâng độ chính xác cảnh báo lũ quét lên 90% trong giai đoạn 2026 - 2028.
  • Tối ưu hóa quy trình vận hành liên hồ chứa: Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi cùng các đơn vị quản lý thủy điện - thủy lợi thực hiện điều tiết linh hoạt hồ Nước Trong (dung tích lưu vực 485 km²) và hệ thống bậc thang thủy điện Đắk Đring, bảo đảm duy trì dòng chảy môi trường hạ du tối thiểu 12 m³/s trong các tháng kiệt từ tháng II đến tháng V, hoàn thành quy chế cập nhật trước năm 2027.
  • Phục hồi và nâng cao chất lượng rừng phòng hộ đầu nguồn: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi triển khai kế hoạch trồng mới và khoanh nuôi tái sinh 10.000 ha rừng tự nhiên bản địa tại vùng đầu nguồn 6 huyện miền núi, nâng tỷ lệ che phủ rừng lưu vực từ 49,8% lên 53,0% trong giai đoạn 2026 - 2030 để gia tăng hệ số trữ nước ngầm tự nhiên.
  • Xây dựng công trình kiểm soát mặn và giữ ngọt hạ lưu: Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng các Công trình Nông nghiệp triển khai xây dựng đập dâng hạ lưu sông Trà Khúc và cống ngăn mặn tại cửa Cổ Lũy, bảo vệ an toàn nguồn nước tưới cho 15.000 ha đất canh tác nông nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt ổn định cho hơn 500.000 cư dân đô thị đến năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước và môi trường: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Ngãi khai thác các chỉ số dòng chảy dự báo để cập nhật Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu và quy hoạch phân bổ tài nguyên nước mặt giai đoạn 2026 - 2035.
  • Đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi và thủy điện: Các kỹ sư vận hành hồ Nước Trong và các nhà máy thủy điện trên sông Trà Khúc ứng dụng chuỗi lưu lượng dòng chảy đến để thiết lập biểu đồ điều phối tích nước mùa kiệt và cắt lũ mùa mưa.
  • Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Thủy văn, Biến đổi khí hậu: Tham khảo quy trình thiết lập, hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy văn phân bố BTOPMC với chỉ số Nash trên 0,80 trên các lưu vực có địa hình chia cắt phức tạp.
  • Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị phát triển cộng đồng: Sử dụng tài liệu để xây dựng các chương trình quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, hỗ trợ các vùng xung yếu thường xuyên bị cô lập do lũ lụt tại các huyện Ba Tơ, Nghĩa Hành và Tư Nghĩa.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn sử dụng mô hình thủy văn nào và lý do lựa chọn mô hình đó là gì?

Luận văn sử dụng mô hình thủy văn bán phân bố BTOPMC do Đại học Yamanashi phát triển. Mô hình này rất thích hợp cho lưu vực sông Trà Khúc - sông Vệ nhờ khả năng tích hợp mô hình số độ cao DEM và bản đồ thảm phủ thực vật, giúp mô phỏng chi tiết quá trình hình thành dòng chảy trên địa hình có độ dốc bình quân 18,5% và diện tích hơn 4.500 km².

Mức độ chính xác của mô hình BTOPMC khi kiểm định tại lưu vực sông Trà Khúc đạt bao nhiêu?

Mô hình đạt độ chính xác rất cao với hệ số hiệu quả Nash-Sutcliffe đạt trên 0,80 cho cả giai đoạn hiệu chỉnh (1993 - 1994) và giai đoạn kiểm định (1998 - 1999) tại trạm thủy văn Sơn Giang. Điều này chứng minh mô hình phản ánh sát thực tế cả về lưu lượng đỉnh lũ lẫn diễn biến dòng chảy kiệt nhiều năm.

Biến đổi khí hậu làm thay đổi lượng mưa tại Quảng Ngãi như thế nào?

Dưới tác động của biến đổi khí hậu, lượng mưa năm phân hóa sâu sắc khi trạm Trà Bồng đạt 3.559 mm/năm trong khi trạm Sa Huỳnh chỉ đạt 1.821 mm/năm. Lượng mưa mùa mưa chiếm tới 45% đến 55% tổng lượng cả năm, trong khi 3 tháng kiệt nhất (tháng II đến tháng IV) chỉ chiếm từ 4,5% đến 5,9%, làm gia tăng sự chênh lệch giữa hai mùa.

Dự báo dòng chảy mùa kiệt trên sông Trà Khúc sẽ biến động ra sao đến năm 2050 và 2100?

Theo các kịch bản biến đổi khí hậu B2 và A2, tổng lưu lượng dòng chảy mùa kiệt (từ tháng II đến tháng V) tại trạm Sơn Giang dự kiến suy giảm từ 6,5% đến 18,2% so với thời kỳ nền 1980 - 1999. Sự suy giảm này làm gia tăng nguy cơ hạn hán cục bộ và xâm nhập mặn sâu vào vùng cửa sông.

Các giải pháp phi công trình nào được khuyến nghị ưu tiên hàng đầu cho lưu vực?

Nghiên cứu khuyến nghị ưu tiên phục hồi 10.000 ha rừng tự nhiên đầu nguồn để nâng tỷ lệ che phủ rừng từ 49,8% lên 53,0%, kết hợp hiện đại hóa mạng lưới đo mưa tự động tại 12 vị trí vùng cao nhằm chủ động nâng cao năng lực cảnh báo sớm thiên tai lũ quét và hạn hán cho người dân.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng tài nguyên nước mặt trên diện tích lưu vực 4.500 km² của hệ thống sông Trà Khúc - sông Vệ dựa trên chuỗi quan trắc 37 năm (1977 - 2013).
  • Ứng dụng thành công mô hình thủy văn phân bố BTOPMC với chỉ số Nash-Sutcliffe đạt trên 0,80, khẳng định tính khả thi của mô hình tại khu vực miền Trung.
  • Định lượng chi tiết xu thế biến động dòng chảy tương lai theo kịch bản B2 và A2: dòng chảy mùa lũ tăng đến 14,8% và dòng chảy mùa kiệt giảm sâu tới 18,2%.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình với mục tiêu nâng độ che phủ rừng lên 53,0% và bảo đảm an ninh nguồn nước cho hơn 500.000 người dân.
  • Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy phục vụ công tác quy hoạch thủy lợi và cập nhật kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu của tỉnh Quảng Ngãi.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là thiết lập hoàn chỉnh bộ cơ sở dữ liệu và mô hình phân bố dòng chảy có độ tin cậy cao, phục vụ việc dự báo thủy văn chi tiết đến năm 2100. Trong giai đoạn 2026 - 2028, các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng mô phỏng lan truyền ô nhiễm nước mặt và xâm nhập mặn vùng cửa sông. Các nhà quản lý, chuyên gia thủy văn và độc giả quan tâm được khuyến khích khai thác sâu chuỗi dữ liệu mô hình để ứng dụng vào công tác bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước địa phương.