Chương 1: Cơ sở lí luận chung về từ đồng nghĩa Chương 2: Tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh Chương 3: Tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt Chương 4: Đối chiếu tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh và tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA 1. KHÁI LƢỢC VỀ NGUỒN GỐC THUẬT NGỮ “TỪ ĐỒNG NGHĨA” Theo “Đại từ điển Bách khoa Xô Viết”, tập 23 [114], thuật ngữ chỉ hiện tượng đồng nghĩa có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp. * Được viết dưới dạng tiếng Hi Lạp: Synònymia: có nghĩa là “cùng tên”, chỉ quan hệ giữa hai biểu thức đẳng nghĩa nhưng không đồng nhất.
Tính chất đẳng nghĩa ở đây được hiểu là tính tương ứng hoặc là với cùng một biểu vật (denotat) (sự kiện, khách thể, v.v…), hoặc là với cùng một biểu niệm (signifikat) (cái được biểu hiện thuộc ngôn ngữ) (dẫn theo Nguyễn Đức Tồn [44, tr. * Được viết dưới dạng tiếng Anh: Synonymy: có nghĩa là “hiện tượng đồng nghĩa”. KHÁI NIỆM TỪ ĐỒNG NGHĨA 1. Phân biệt ba khái niệm cơ bản: hiện tượng đồng nghĩa, đơn vị từ vựng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa 1.
Hiện tượng đồng nghĩa Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn thì đồng nghĩa là một trong những khái niệm có tính nền tảng của ngôn ngữ học, cũng như của Logic học, ngữ nghĩa logic và của kí hiệu học.1] đã trình bày, tính chất đẳng nghĩa được hiểu theo hai hướng, tính tương ứng hoặc là cùng với một biểu vật: Ví dụ : Sân bay và phi trường, nhãn và mắt Hoặc là tương ứng cùng với một biểu niệm: 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ví dụ: To và lớn, gan dạ và dũng cảm Tuy nhiên, trong ngôn ngữ học, hiện tượng đồng nghĩa biểu niệm là đối tượng nghiên cứu chủ yếu. Hiện tượng đồng nghĩa có thể xảy ra giữa các hình vị (ví dụ: bất-phi- vô), đơn vị từ vựng đồng nghĩa (ví dụ: mẹ và má, v.v…), hoặc giữa các kết cấu cú pháp, chẳng hạn trong tiếng Nga: âûøåÌàøè và âûøå,÷åì Ìàøè(cao hơn Ma Sa). Đơn vị từ vựng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa Các đơn vị từ vựng không chỉ có từ mà còn có các cụm từ cố định có chức năng tương đương với từ, chẳng hạn các thành ngữ. Do đó, hiện tượng đồng nghĩa có thể xảy ra giữa các từ: Ví dụ: Trong tiếng Việt: bố và cha; nông và cạn.v… Trong tiếng Anh: rich – wealthy ( giàu); Hiện tượng đồng nghĩa còn có thể xảy ra giữa các cụm từ cố định: Ví dụ: Nước đổ lá khoai và nước đổ đầu Vịt; Oản ít bụt nhiều và Mật ít ruồi nhiều.v… Ví dụ: hiện tượng Đồng nghĩa cụm từ tiếng Anh: Bad news travels fast - No news is good news (Tin dữ lan nhanh ) Từ những ví dụ đã được dẫn ở trên, chúng ta có thể khẳng định rằng: “Từ đồng nghĩa là trường hợp riêng quan trọng nhất nằm trong “đơn vị từ vựng đồng nghĩa” và “đơn vị từ vựng đồng nghĩa, từ đồng nghĩa” đều thuộc “hiện tượng đồng nghĩa” của ngôn ngữ [44, tr.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quan điểm của các nhà Việt ngữ học về từ đồng nghĩa Trong Việt ngữ học, các nhà nghiên cứu cũng đã rất quan tâm đến từ đồng nghĩa. Nhà Việt ngữ học Đỗ Hữu Châu quan niệm rằng: “Trong vốn từ hội của bất cứ một ngôn ngữ nào cũng thường có những từ mặc dù hình thức ngữ âm hoàn toàn khác nhau nhưng từ nghĩa lại giống nhau. Do đó trong nhiều hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể có thể thay thế cho nhau được.
Những từ này là những từ đồng nghĩa” [2, tr. Quan điểm của Đỗ Hữu Châu về từ đồng nghĩa, theo chúng tôi, còn ít nhiều chưa được cụ thể, bởi vì tác giả mới chỉ đề cập tới “hình thức ngữ âm khác nhau; từ nghĩa giống nhau; tiếp đó là các từ đồng nghĩa có thể thay thế cho nhau trong nhiều hoàn cảnh”, mà chưa đề cập tới “mức độ giống nhau về ý nghĩa của các từ “đến mức nào thì mới được coi là đồng nghĩa”. Sau khi nghiên cứu sâu hơn về từ đồng nghĩa, năm 1981, ông đưa ra quan niệm khác về từ đồng nghĩa như sau: “Từ đồng nghĩa là những từ thay thế được cho nhau trong những ngữ cảnh giống nhau mà ý nghĩa chung của ngữ cảnh không thay đổi về cơ bản” [3, tr. Mặc dù vậy, quan niệm trên về từ đồng nghĩa của ông vẫn chưa giúp giải quyết được các vấn đề sau: Thứ nhất, đúng là có những từ đồng nghĩa thay thế cho nhau được trong những ngữ cảnh giống nhau mà ý nghĩa của ngữ cảnh không thay đổi.
Nhưng không phải tất cả các từ đồng nghĩa đều có thể thay thế cho nhau trong cùng một ngữ cảnh (…) Thứ hai, có những từ thay thế được cho nhau trong một ngữ cảnh mà ý nghĩa của ngữ cảnh không thay đổi về cơ bản, song chúng không phải là những từ đồng nghĩa [44, tr. Tiếp theo, trên cơ sở nhận thức lại về từ đồng nghĩa như vậy, Đỗ Hữu Châu đưa ra quan niệm mới về từ đồng nghĩa: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Hiện tượng Đồng nghĩa là hiện tượng có nhiều mức độ tuỳ theo số lượng các nét nghĩa chung trong các từ. Mức độ đồng nghĩa thấp nhất khi các từ ngữ có chung một nét nghĩa chung (nét nghĩa phạm trù). Số lượng các nét nghĩa đồng nhất tăng lên thì từ càng đồng nghĩa với nhau.
Mức độ đồng nghĩa cao nhất xảy ra khi các từ đã có tất cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùng nhau, chỉ khác ở một hoặc vài nét nghĩa cụ thể nào đó” [3, tr. Theo ý kiến của chúng tôi, quan niệm về từ đồng nghĩa vừa trình bày là quá rộng. Hơn thế nữa, tác giả coi cả các từ chỉ có một nét nghĩa chung nhất giống nhau là những từ đồng nghĩa mà không nhận ra rằng, trong thực tế nghiên cứu, các từ cần thiết có ý nghĩa gần nhau đến một "mức độ nhất định" thì mới được coi là những từ đồng nghĩa. Cố phó giáo sư Nguyễn Văn Tu - nhà Việt ngữ học, trong công trình đầu tiên của mình, đó là cuốn "Từ vựng học tiếng Việt hiện đại" xuất bản năm 1968 đã đưa ra quan niệm về từ đồng nghĩa như sau: "Những từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau.
Đó là nhiều từ khác nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó. Đó là những tên khác nhau của một hiện tượng trong những từ đồng nghĩa có một chỗ chung là việc định danh”. Chúng tôi cho rằng, định nghĩa trên của tác giả Nguyễn Văn Tu là hơi hẹp. Bởi một lẽ, định nghĩa mới chỉ quan tâm tới từ đồng nghĩa biểu vật, chưa đề cập tới từ đồng nghĩa biểu niệm.
Định nghĩa trên chỉ là định nghĩa thuần tuý ở phương diện lí thuyết. Năm 1985, trong cuốn “Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, 1985", ông đã đưa ra một cách hiểu khác về từ đồng nghĩa: “Thực ra những từ đồng nghĩa là những từ của một thứ tiếng có nghĩa biểu đạt (chỉ sự vật, hiện tượng, tính chất, v.v…) giống nhau hoặc gần nhau, có thể thay thế cho nhau trong một số ngữ cảnh nhất định nhưng có khác nhau về sắc 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thái tình cảm, về giá trị gợi cảm, về phong cách, phạm vi sử dụng.v… Đó là những từ khác nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó. Đó là những tên khác nhau của một hiện tượng. Những từ này có điểm chung về chức năng định danh.
Nói rộng ra, những từ đồng nghĩa là những từ cùng chỉ một khái niệm [46, tr. Với cách hiểu như trên, tác giả Nguyễn Văn Tu đã nêu cụ thể hơn và có sự mở rộng hơn quan niệm về từ đồng nghĩa. Tuy nhiên, tác giả chưa phân biệt rõ khái niệm “chủng” và khái niệm “loại’. Vì vậy, tác giả đã coi chúng là từ đồng nghĩa.
Ví dụ: Đầm – Hồ – Chuôm Nhà Việt ngữ học Nguyễn Thiện Giáp lại tán thành quan điểm của P. Trên cơ sở đó ông đã đưa ra quan niệm của mình về từ đồng nghĩa như sau: “Trong hệ thống ngôn ngữ, nói đến hiện tượng đồng nghĩa là phải nói đến sự giống nhau của các nghĩa sở biểu. Vì vậy, chúng tôi tán thành quan niệm cho rằng “Từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một khái niệm” (dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [17, tr. Hạn chế trong quan niệm của tác giả P.
Bu - đa - gốp và Nguyễn Thiện Giáp là ở chỗ mới chỉ đề cập đến từ đồng nghĩa biểu niệm, còn trường hợp từ đồng nghĩa biểu vật thì hoàn toàn không nhắc tới. Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Hoàng Trọng Phiến, Vũ Đức Nghiệu trong cuốn "Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, tr. 195" đã đưa ra một quan niệm về từ đồng nghĩa theo xu hướng: Thứ nhất, dựa vào đối tượng được gọi tên; Thứ hai, dựa vào khái niệm do từ biểu thị. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thực ra, từ đồng nghĩa không phải là những từ trùng nhau hoàn toàn về nghĩa.
Chúng nhất định có những dị biệt nào đó bên cạnh sự tương đồng (mặc dù phát hiện sự dị biệt đó không phải lúc nào cũng dễ dàng). Chính sự dị biệt đó lại là lí do tồn tại và làm nên những giá trị khác nhau giữa các từ trong một nhóm từ đồng nghĩa. Rõ ràng tính đồng nghĩa có những mức độ khác nhau. Và theo các tác giả thì từ “đồng nghĩa là những từ tương đối giống với nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh và có phân biệt với nhau về một vài sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách nào đó, hoặc đồng thời cả hai” [23, tr.
Tác giả Nguyễn Trung Thuần trong bài viết “Thử tìm hiểu từ trung tâm trong nhóm từ đồng nghĩa đăng trên tạp chí “Ngôn ngữ” đã viết: “Từ đồng nghĩa là những từ khác nhau về vỏ ngữ âm nhưng giống nhau về nghĩa (biểu thị hay diễn đạt) và có thể thay thế cho nhau trong những ngữ cảnh tiêu biểu mà nội dung thông báo vốn được giữ nguyên” [45, tr. Quan điểm của các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài về từ đồng nghĩa Nhóm tác giả A.D Gri - gô - re- va và V. Gri - gô- ri – an cho rằng: “Những từ nào có ý nghĩa hoàn toàn đồng nhất với nhau mới được coi là những từ đồng nghĩa”.