CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Về khái niệm địa danh Tuy đã có lịch sử nghiên cứu từ lâu đời, nhưng cho đến nay, các học giả vẫn chưa đưa ra được một khái niệm thống nhất về địa danh. Thuật ngữ địa danh (toponym) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: “topos” (vị trí) và “onoma/onyma” (tên, tên gọi). Sau này, trong tiếng Anh còn xuất hiện thêm 3 thuật ngữ nữa có giá trị sử dụng tương đương là: place name, topographical name và geographical name [49].
Tuy có nhiều thuật ngữ khác nhau nhưng nhìn chung chúng đều gồm 2 thành phần là địa điểm (topos/ place/ geographical) và tên (nym/ name). Mỗi học giả có hướng tiếp cận riêng, do đó có rất nhiều định nghĩa khác nhau về địa danh. Quan niệm của các học giả nước ngoài về địa danh Trong Địa danh là gì, Superanskaja đã nói rằng: “Cuộc sống con người gắn liền với các địa điểm khác nhau và được biểu thị bằng những từ riêng - đó là các tên gọi địa lí, địa danh hay toponym” [33]. Đối tượng nghiên cứu của địa danh học được tác giả đưa ra là tất cả các đối tượng thuộc về “những địa điểm, mục tiêu địa lí” hay cụ thể đó là những “vật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà, vườn cây, giếng nước đứng riêng rẽ) đều có tên gọi” [33].
Theo đó, những đối tượng không có vị trí cố định trên bề mặt trái đất sẽ không thuộc đối tượng nghiên cứu của địa danh học. Theo Paul Woodman, một chuyên gia địa danh học người Anh cho rằng: “địa danh là một nhãn được gán cho mỗi một đối tượng địa lí, chúng được sử dụng để phân biệt với một đối tượng khác” (dẫn theo [49]). Cùng với 9 quan niệm coi địa danh là “những cái nhãn” còn có S. Gardinar, địa danh là: “một từ hoặc cụm từ được nhận ra thông qua sự biểu thị hoặc nhắm tới sự biểu thị một vật hay các sự vật mà nó chỉ ra bởi âm thanh phân biệt với nó, mà không hề quan tâm đến bất kì ý nghĩa nào mà nó gắn với hình thức âm thanh ban đầu hoặc nhận biết nó thông qua sự liên kết hay các vật đã nói” (dẫn theo [49]).
Ở đây, chức năng chuyển tải văn hóa của địa danh đã bị triệt tiêu, cũng đồng nghĩa với triệt tiêu giá trị giao tiếp của nó. Và như vậy, chúng chỉ là những “cái nhãn” vô hồn? Nếu quả thực như vậy thì chúng tôi cũng đồng ý với ý kiến của Vũ Thị Thắng rằng, tên riêng nói chung hay địa danh nói riêng chắn chắn sẽ nhanh chóng bị lãng quên mà thôi. Học giả Je Hun Ryu lại có cách hiểu rộng hơn: “địa danh là tên được dùng cho một đối tượng địa lí trên trái đất hoặc bất kỳ hành tinh nào khác” (dẫn theo [49]. Theo đó, đối tượng của địa danh học trong quan niệm này được mở rộng đến cả các đối tượng ngoài trái đất (vũ trụ danh).
Hay định nghĩa của Naftali Kadmon (2000) phát biểu như sau: “địa danh, gọi là tên địa hình (geographic name), là tên riêng dùng để chỉ nét đặc trưng về mặt địa hình, hoặc là trên trái đất (on Earth) hoặc là trên các thiên thể (heavenly body) như mặt trăng, các hành tinh khác hay một trong những vệ tinh của nó” (dẫn theo [49]). Trong định nghĩa của ông chúng ta nhận thấy rằng, đối tượng mà địa danh gọi tên chỉ là các dạng của địa hình, hay là các địa danh tự nhiên mà thôi. Nhưng ngược lại, ngoại diên của địa danh được mở rộng đến cả các đối tượng ngoài trái đất (vũ trụ danh). Còn tên gọi các địa danh nhân tạo lại không thuộc đối tượng nghiên cứu của địa danh học.
Nhóm chuyên gia về địa danh của Liên hợp quốc đưa ra định nghĩa như sau: “Địa danh là tên riêng (có thể là một từ, một kết hợp từ hoặc một biểu thức) được sử dụng nhất quán trong một ngôn ngữ để chỉ một nơi, một địa điểm hoặc một khu vực cụ thể có đặc điểm riêng biệt trên bề mặt trái đất” (dẫn theo [49]). Quan niệm của các học giả Việt Nam về địa danh Ở Việt Nam, thuật ngữ địa danh cũng được sử dụng rộng rãi và khá phổ biến với nhiều ý kiến khác nhau. Các tác giả Dương Thị The, Phạm Thị Thoan, tuy không đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu về địa danh nhưng trong Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỉ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ An trở ra) hai tác giả này cũng đã chỉ ra đối tượng nghiên cứu của địa danh gồm cả đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn: “Địa danh của một vùng hay một nước là tổng thể các tên riêng đặt ra để gọi các đơn vị địa lí tự nhiên hay nhân văn của một vùng hay nước ấy” [44; 11]. Hoàng Thị Châu quan niệm: “Địa danh hay là tên địa lí (toponym, geographical name) là tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính.
được con người đặt ra. Địa danh chứa những thông tin về tinh thần, văn hóa, xã hội, lịch sử, ngôn ngữ và chính trị” [7]. Lê Trung Hoa, từ cách tiếp cận ngôn ngữ - văn hóa đã đưa ra một định nghĩa như sau: “Địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều. Trước địa danh ta có thể đặt một danh từ chung chỉ tiểu loại địa danh đó” [21].
Trong định nghĩa này, lần đầu tiên tác giả đã chỉ rõ các đặc điểm về cấu tạo, về chức năng cũng như phạm vi đối tượng của địa danh. Tuy nhiên, tác giả đã không nhắc đến chức năng quan trọng nhất của tên riêng, là chức năng đánh dấu, phân biệt đối tượng này với đối tượng khác. Phạm Tất Thắng cũng xếp địa danh thuộc lớp tên riêng (proper name). Và tên riêng khác với tên chung cơ bản ở chức năng, tác giả viết: "Chức năng cơ bản của tên chung là gọi tên để thông báo, để biểu niệm.
Còn chức năng của tên riêng là gọi tên để phân xuất và định danh riêng cho một đối tượng cá biệt, đơn nhất so với những đối tượng khác cùng loại" [40]. 11 Nguyễn Kiên Trường lại cho rằng địa danh bao gồm cả “danh từ chung chỉ cả lớp sự vật thường đứng trước tên riêng” [48], Ví dụ cả tổ hợp thành phố Hà Nội, tỉnh Hải Phòng,. mới là địa danh (Lê Trung Hoa lại coi thành phố, tỉnh là các “tiền từ”) và tác giả định nghĩa: “Địa danh là tên riêng chỉ các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [21]. Cũng xuất phát từ hướng nghiên cứu này, Vũ Thị Thắng đã đặc biệt nhấn mạnh chức năng của địa danh: “Địa danh là những đơn vị đa thành tố được dùng làm tên gọi để đánh dấu và khu biệt các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [43].
Đồng thời, địa danh còn là “phương tiện lưu giữ những thông tin về tự nhiên, xã hội, lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc một cách trực tiếp và cụ thể nhất” [43]. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về địa danh, tuy nhiên chúng ta vẫn nhận thấy hai thành phần chính trong các khái niệm này: (1) Về nội hàm, theo nghĩa hẹp là tên đất, theo nghĩa rộng đó là các đối tượng địa lí nói chung nhưng phải có “vị trí xác định” trên bề mặt trái đất, có thể là tự nhiên hoặc nhân tạo. (2) Về ý nghĩa của địa danh: ngoài chức năng định danh, địa danh còn là những “chỉ dẫn văn hóa”, bởi nó chứa đựng những đặc điểm, đặc trưng về đối tượng, hay nói một cách khác, tên gọi của những đối tượng này gắn liền với tính có lí do. Do đó, địa danh là một bộ phận của hệ thống từ vựng trong một ngôn ngữ.
Và nó cũng mang những tính chất của ngôn ngữ nói chung và cũng chịu sự chi phối của các quy luật ngôn ngữ nói riêng. Chúng tôi đưa ra định nghĩa về địa danh như sau: Địa danh là những tên riêng được tạo nên để phân biệt giữa các đối tượng địa lí (tự nhiên và nhân văn), có vị trí xác định trên bề mặt trái đất, trong nó chứa đựng nhiều thông tin về chủ thể định danh. Phân loại địa danh Phân loại địa danh là công việc rất quan trọng trong công tác nghiên cứu địa danh. Do xuất phát điểm khác nhau nên cho đến nay cũng có nhiều cách phân loại địa danh khác nhau.
Chính điều này đã tạo nên những khó khắn trong khi phân loại địa danh. Sau đây là những cách phân loại điển hình. Cách phân loại địa danh trên thế giới Đầu tiên phải kể đến cách phân loại địa danh dựa vào nguồn gốc ngữ nguyên của hai tác giả người Pháp: A. Dauzat và Ch.
Dauzat chia các địa danh thành 4 phần: Vấn đề những cơ sở tiền Ấn Âu; Các danh từ tiền La tinh về nước trong thủy danh học; Các từ nguyên Gô loa - La mã; Địa danh học Gô loa - La mã của vùng Anvergne và Velay. Rostaing chia những vấn đề của địa danh thành 11 chương (dẫn theo [49]). Và một hướng phân loại khác là dựa vào chính đối tượng phân loại. Chẳng hạn như cách phân loại của G.
Gorbanevskij, chia địa danh thành 4 loại: phương danh, sơn danh, thủy danh và phố danh; A. Superanskaja chia thành hai nhóm lớn (vật thể tự nhiên và nhân tạo) với 7 loại địa danh: phương danh học, sơn danh, thủy danh, phố danh học, lộ danh học, viên danh học và đạo danh học (dẫn theo [49]). Năm 1921, trong công trình: American Language: An Inquiry into the Development of English in the United States, Herry Louis Mencken đã phân loại hệ thống địa danh Mỹ thành 8 loại: Địa danh có nguồn gốc từ tên người; Địa danh được chuyển từ nơi khác đến hoặc địa danh nơi ở cũ của cư dân; Địa danh có gốc từ người Mỹ bản địa; Địa danh có gốc từ tiếng nước ngoài; Địa danh là tên gọi trong Kinh thánh hay trong các truyền thuyết; Địa danh miêu tả về các địa phương; Địa danh có nguồn gốc từ các loài động thực vật hoặc địa chất; Địa danh là những tên gọi tưởng tượng.