Mở đầu: Giới thiệu những vấn đề mà luận văn quan tâm và có nhiệm vụ thực hiện. Cơ sở lí thuyết và các khái niệm trong luận văn I. Một số vấn đề về định danh. Một số vấn đề về ngữ nghĩa.
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá. Khái niệm tổ hợp ghép chính phụ được sử dụng trong luận văn. Chƣơng II. Đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của tổ hợp ghép chính phụ "cười + x" trong tiếng Việt.
Đặc điểm định danh của tổ hợp ghép chính phụ "cười + x" trong tiếng Việt. Đặc điểm cấu tạo của tổ hợp ghép chính phụ "cười + x". Những đặc trưng được dùng để gọi tên tổ hợp ghép chính phụ "cười + x". Đặc điểm ngữ nghĩa của tổ hợp ghép chính phụ "cười + x" trong tiếng Việt.
Đặc điểm ngữ nghĩa của động từ cười. Đặc điểm ngữ nghĩa của yếu tố phụ x. Các nét nghĩa trong tổ hợp "cười + x". Sự kết hợp của các nét nghĩa trong tổ hợp "cười + x".
Chƣơng III. Đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của tổ hợp ghép chính phụ "nói + x" trong tiếng Việt. Đặc điểm định danh của tổ hợp ghép chính phụ "nói + x" trong tiếng Việt. Đặc điểm cấu tạo của tổ hợp ghép chính phụ "nói + x".
Những đặc trưng được dùng để gọi tên tổ hợp ghép chính phụ "nói + x". Đặc điểm ngữ nghĩa của tổ hợp ghép chính phụ "nói + x" trong tiếng Việt. Đặc điểm ngữ nghĩa của động từ nói. Đặc điểm ngữ nghĩa của yếu tố phụ x.
Các nét nghĩa trong tổ hợp "nói + x". Sự kết hợp của các nét nghĩa trong tổ hợp "nói + x". Chƣơng IV. Nhận xét bước đầu về đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của hai tổ hợp ghép chính phụ "cười + x" và "nói + x".
Đặc điểm định danh của hai tổ hợp ghép chính phụ "cười + x" và "nói + x". Nét tương đồng. Nét khác biệt. Đặc điểm ngữ nghĩa của hai tổ hợp ghép chính phụ "cười + x" và "nói + x".
Nét tương đồng. Nét khác biệt. Nhận xét chung. CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ CÁC KHÁI NIỆM TRONG LUẬN VĂN I.
Một số vấn đề về lí thuyết định danh. Định danh (nomination) là gì? Thuật ngữ định danh được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo quan niệm của G. Cosanski thì định danh là "sự cố định (hay gắn) cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm - biểu niệm (significat) phản ánh các đặc trưng nhất định của một biểu vật (denotat) - các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ" [dẫn theo 24, 102].
Định danh là một trong các chức năng của các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ, ta có thể hiểu một cách đơn giản nhất thì đây chính là chức năng gọi tên: gọi tên những đối tượng, thuộc tính, hoặc những hành động cụ thể như: cây, đi, cao.; gọi tên những hình tượng trừu tượng không có hình dạng, thuộc tính hay hoạt động cụ thể nhưng có tính khách quan như: đã, đang, sẽ.; và cũng có thể gọi tên những hình tượng đặc biệt có tính chủ quan như: à, ư, nhỉ, nhé. Yêu cầu của một tên gọi là: - Nó phải khái quát, trừu tượng, phải mất khả năng gợi đến những đặc điểm, những thuộc tính riêng rẽ tạo thành đối tượng vì nó là sản phẩm của tư duy trừu tượng. Về mặt ngữ nghĩa nó phải tách hẳn với những dấu vết của giai đoạn cảm tính. - Các tên gọi có tác dụng phân biệt đối tượng này với đối tượng khác trong cùng một loại hay phân biệt các loại nhỏ trong một loại lớn.
Sự phân biệt này phải dứt khoát, có nghĩa là khi đã có tên gọi thì sự vật này, loại nhỏ 10 z này cũng trở thành độc lập với nhau, riêng rẽ với nhau. Nhờ có tên gọi mà sự vật có đời sống độc lập trong tư duy [4, 190]. Tất cả các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ đều có chức năng biểu nghĩa nhưng phải là một đơn vị có cấp độ từ trở lên mới có thể định danh [Dokulil & Danes, Akhmanova, dẫn theo 18, 212]. Nhưng cũng chỉ có các thực từ mới có chức năng định danh, còn các thán từ, liên từ, giới từ, đại từ.
không có chức năng này [7, 59]. Đơn vị định danh. Khi xem xét các đơn vị của ngôn ngữ, lí thuyết định danh phân biệt các loại đơn vị định danh khác nhau. Nhìn từ số lượng đơn vị có nghĩa tham gia đơn vị định danh thì có sự phân biệt: - Định danh đơn giản (định danh tổng hợp): được tạo bởi một đơn vị có nghĩa.
- Định danh phức hợp (định danh phân tích, định danh miêu tả): được tạo bởi từ hai đơn vị có nghĩa trở lên. Nhìn từ góc độ ngữ nghĩa thì có: định danh gốc (hay bậc một) và định danh phái sinh (hay bậc hai). Đơn vị định danh gốc là những từ tối giản về mặt hình thái - cấu trúc, mang nghĩa đen, được dùng làm cơ sở để tạo ra các đơn vị định danh khác. Hồ Lê gọi đây là định danh phi liên kết hiện thực: "gọi tên những mẩu nhỏ nhất trong hiện thực mà một cộng đồng ngôn ngữ quan niệm là đã chia cắt ra được và nắm bắt được từ hiện thực" [24, 102].
Ví dụ như nhà, cây, hoa, đất. Định danh phái sinh (hay bậc hai) là những đơn vị định danh có đặc trưng hình thái cấu trúc phức tạp hơn đơn vị gốc, mang nghĩa biểu trưng hoá (dưới hình thái ẩn dụ hay hoán dụ) [12, 8] mà Hồ Lê gọi đây là định danh liên kết hiện thực: "để phản ánh hiện thực khách quan một cách đầy đủ, không cchỉ gọi tên từng mẩu hiện thực nhỏ nhất mà còn phải gọi 11 z tên những tập hợp gồm nhiều mẩu hiện thực liên kết lại" [24, 102]. Ví dụ: làng nước, đất đai, cây lá, nói vã, cười khẩy. Cơ chế định danh của đơn vị định danh phái sinh (bậc hai).
Quá trình cấu tạo nên các đơn vị định danh phái sinh (bậc hai) có cơ chế nhất định. Muốn xác định rõ cơ chế của nó thì theo tác giả Hoàng Văn Hành cần phải làm rõ hai vấn đề cốt yếu là: a) Có những yếu tố nào tham gia vào cơ chế này và tư cách của mỗi yếu tố ra sao? b) Mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố đó như thế nào mà khiến ta có thể coi đó là một cơ chế? Sự phân tích cứ liệu trong các ngôn ngữ đơn lập mà tiếng Việt là tiêu biểu, cho phép nhận định rằng để có một cơ chế cấu tạo các đơn vị định danh phái sinh có thể vận hành được một cách có hiệu quả thì cần có điều kiện sau: Một là, có một hệ những đơn vị làm yếu tố gốc (nguyên tố). Hai là, có một hệ những yếu tố có giá trị hình thái nghĩa là có thể dùng làm phương tiện để tạo lập những đơn vị định danh phái sinh (hình tố). Ba là, để có đơn vị định danh phái sinh, điều cốt yếu là có một hệ quy tắc vận hành để sử dụng các hình tố làm phương tiện mà tác động vào nguyên tố theo một cách nhất định.
Cơ chế vừa nêu thuộc về hệ thống của ngôn ngữ. Nó có tính chất tiềm năng, xét về mặt lí thuyết. Những sản phẩm của cơ chế này trở thành đơn vị định danh được ghi nhận vào vốn từ vựng của ngôn ngữ hay không còn phụ thuộc vào nhân tố thứ tư nữa, một nhân tố không kém phần quan trọng, nhân tố xã hội. Đó chính là tính đắc dụng hay không đắc dụng của các đơn vị định danh mới được sản sinh đối với cộng đồng người bản ngữ [12, 26 - 28].
Cụ thể, để tạo ra các đơn vị định danh phái sinh, chúng ta có hai con đường: phái sinh ngữ nghĩa và phái sinh hình thái - cú pháp. Bằng con đường ngữ nghĩa, ta có thể nhân khả năng định danh của đơn vị gốc lên nhiều lần. Một từ cùng với một vỏ ngữ âm phát triển ra bao nhiêu 12 z nghĩa sẽ có bấy nhiêu đơn vị định danh. Mỗi một biến thể từ vựng - ngữ nghĩa sẽ tương ứng với một đơn vị định danh.
Ví dụ: chân trong "chân tay" là đơn vị định danh bậc một (gốc), nhưng chân trong "có chân trong ban chủ nhiệm hợp tác xã" là đơn vị định danh bậc hai (phái sinh) được tạo ra bằng con đường phái sinh ngữ nghĩa. Theo con đường hình thái cú pháp, người ta có thể tạo ra hàng loạt các đơn vị định danh phái sinh với các đặc trưng khác nhau về cấu trúc và ngữ nghĩa. Theo cách này thường có hai quá trình: - Thứ nhất là quá trình tạo từ với các phương thức thường gặp là: Phương thức suy phỏng: kiểu như bú - vú, bóp - móp, dìm - chìm. Phương thức láy: kiểu như bé - be bé, nhỏ - nho nhỏ, mảnh - mảnh mai.
Phương thức ghép: trong phương thức này có hai cách: ghép hội nghĩa (như giày dép, quần áo, chùa chiền.) và ghép phân nghĩa (như áo tắm, quần the, cười ruồi, nói nhảm.) Phương thức phụ gia: phương thức này không có trong tiếng Việt. - Quá trình thứ hai để tạo các đơn vị định danh phái sinh bằng con đường cú pháp là quá trình từ vựng hoá những tổ hợp. Đó là quá trình chuyển hoá những tổ hợp thành những đơn vị mang thành ngữ tính. Tính thành ngữ của các đơn vị từ vựng này biểu hiện ở tính bền vững về mặt hình thái cấu trúc và tính bóng bẩy về mặt ngữ nghĩa với những mức độ khác nhau.
Có hai loại tổ hợp thường được từ vựng hoá: tổ hợp tự do và tổ hợp cố định. Trong cơ chế cấu tạo đơn vị định danh bậc hai, phương thức ghép được coi là phương thức quan trọng nhất đối với tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập tiêu biểu. Số lượng đơn vị định danh được tạo bởi phương thức này rất lớn, đặc biệt là các đơn vị ghép phân nghĩa (phụ nghĩa). Và cũng ở chính những đơn vị kiểu này, sự phong phú trong cách nhìn nhận và chỉ ra đặc trưng tạo 13 z thành nhiều tiểu loại trong cùng một loại lớn của tư duy người Việt, ngôn ngữ người Việt được bộc lộ.