Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái niệm hành động nói Thuật ngữ “Hành động nói” (HĐN) hay còn có cách gọi khác là hành vi ngôn ngữ, hành động ngôn ngữ là một thuật ngữ nằm trong hệ thống lý thuyết tương ứng có tên là Lý thuyết hành động nói do L. Austin - nhà triết học người Anh khởi xướng. Đây là một thuật ngữ mấu chốt và mới mẻ mở ra hướng nghiên cứu về cách sử dụng ngôn ngữ, đó là Dụng học - là ngành chuyên nghiên cứu về cách sử dụng ngôn ngữ.
Theo Austin, nói năng cũng là một loại hành động và nó cũng tác động được đến người nghe (kể cả người nghe là chính bản thân người nói, như khi người nói tự vấn lương tâm). Hành động xuất hiện rõ nhất là trong hội thoại, khi người này giao tiếp với người kia. Theo tác giả Diệp Quang Ban, HĐN là “một hành động được thực hiện trong việc nói ra một cái gì đó, như tạo một lời hứa, nêu một câu hỏi, đặt một cái tên” [3, tr. Việc nghiên cứu HĐN xuất phát từ chỗ toàn bộ sự giao tiếp bằng ngôn ngữ bao gồm trong các hành động bằng ngôn ngữ.
Các từ và các câu không phải là các đơn vị của sự giao tiếp, chúng chỉ là các biểu trưng được tạo ra để thực hiện các HĐN, các biểu trưng bằng từ và câu dùng để thể hiện HĐN được gọi là thông điệp. Hay nói cách khác thì thông điệp là từ và câu được sản xuất ra trong những điều kiện nhất định để biểu thị HĐN. Các điều kiện sử dụng ngôn ngữ giúp phân biệt trường hợp là HĐN với trường hợp không cần HĐN và trường hợp không phải là HĐN. Các nhà nghiên cứu hội thoại đã nêu bốn trường hợp sau đây: (1) Thực hiện HĐN bằng phương tiện ngôn ngữ tường minh, như lời hứa, lời sai khiến, lời chào,.
7 (2) Thực hiện HĐN bằng phương tiện kèm ngôn ngữ, như gật đầu, lắc đầu, mở to mắt,. tạo hàm ý hội thoại bằng một quãng im lặng gắn được, tất cả những hiện tượng này đều mang một giá trị diễn đạt nào đó và người nhận thông thường cũng nhận biết được giá trị đó. (3) Trong quá trình trao đáp, một bên nào đó có thể ngầm đánh giá, ngầm đoán định, ngầm kết luận,. mà không cần nói ra, thì những ý nghĩ đó không cần đến HĐN, thậm chí không cần đến HĐN bên trong.
(4) Việc sắp xếp công việc (việc gì, làm lúc nào), phân loại đồ vật,. mà không cần đến ngôn ngữ thì không phải là HĐN. Trong bốn trường hợp trên, trường hợp thứ nhất và thứ hai là có dùng HĐN, trong đó HĐN của trường hợp thứ hai coi như thuộc “bên trong” vì không được nói ra bằng lời mà dùng cử chỉ, điệu bộ và dùng hàm ý hội thoại. Trường hợp thứ ba không cần dùng đến HĐN.
Trường hợp thứ tư không phải là HĐN, nó chỉ là HĐN khi được nói ra bằng lời. Như vậy, HĐN ở đây chỉ là một tiềm năng, chưa được thực hiện, nên nó không được tính vào HĐN. Các điều kiện thực hiện hành động nói 1. Điều kiện về nội dung mệnh đề Nội dung mệnh đề (NDMĐ) là phần nghĩa chỉ sự việc có thể xét được theo tiêu chuẩn đúng hay sai, thật hay giả của lôgic.
Điều kiện mệnh đề được dùng để “cô lập mệnh đề ra khỏi phần còn lại của hành động nói” [3, tr. Việc “cô lập mệnh đề” như vậy là điều kiện để người phân tích tập trung vào những tính chất riêng biệt của HĐN, chứ không phải để tập trung NDMĐ, cũng tức là xem NDMĐ đó được sử dụng cho hành động nói nào (trình bày hay sai khiến,.), chứ không phải mệnh đề đó có ý nghĩa thực như thế nào. Điều kiện mệnh đề không có trong hành động chào, vì hành động chào thuộc lớp hành động bộc lộ (một cảm xúc, một trạng thái tâm lý) do tình trạng của sự vật nói trong mệnh đề đem lại, chứ không bình luận về mệnh đề đó. 8 Chẳng hạn, để chào hỏi khi gặp nhau có thể sử dụng cặp trao đáp “Anh chào em/ Em chào anh”, nhưng đối với người Việt và nhất là đối với những người có mối quan hệ thân tình, khi gặp nhau, người ta thường chào nhau bằng câu hỏi “Anh/ chị khoẻ không?”.
Đây không phải chỉ là một câu hỏi thăm sức khoẻ mà chủ yếu là để chào hỏi người nghe. Đối với người nghe, do hiểu cái thiện cảm đó của người nói, nên có thể chỉ trả lời bằng từ “Chào em/ Chào anh” không liên quan gì với nội dung mệnh đề trong câu hỏi được người nói đưa ra mà người nói vẫn chấp nhận được, nhưng cũng có thể trả lời bằng câu “Anh/Em khoẻ!. Anh/Em có khoẻ không?” là để đáp lại lời của người nói. Do vậy, ví dụ này có thể coi là một lời chào hỏi nhưng đồng thời để thể hiện tình cảm qua NDMĐ.
Có thể hiểu, điều kiện NDMĐ chỉ ra cái bản chất nội dung của hành động. NDMĐ có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các hành động khảo nghiệm, xác tín, miêu tả), hay một hàm mệnh đề (đối với những câu hỏi chỉ có hai khả năng trả lời có hoặc không, phải hoặc không phải,. Sở dĩ gọi đó là hàm mệnh đề vì phát ngôn ngữ vi tương ứng với hành động hỏi đưa ra hai khả năng, người trả lời chọn một phương án để trả lời. NDMĐ có thể là một hành động của người nói (như hứa hẹn) hay một hành động của người nghe (lệnh, yêu cầu).
Điều kiện chuẩn bị Theo tác giả Diệp Quang Ban, điều kiện chuẩn bị là “điều kiện về việc người nói có được quyền tham dự vào HĐN đang đề cập đến, người nói ngụ ý về việc anh ta thực hiện hành động đó, nó cho chúng ta biết người nói cần phải tiếp xúc với người nghe” [3, tr. Có nghĩa là, điều kiện chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và các quan hệ giữa người nói, người nghe. 9 Cụ thể như với hành động ra lệnh, theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “người nói phải tin rằng người nhận lệnh có khả năng thực hiện hành động quy định trong lệnh, đồng thời biết rằng giữa người nói và người nhận có vị thế xã hội có lợi cho người nói. Hành động hứa hẹn đòi hỏi người hứa hẹn có ý muốn thực hiện lời hứa và người khác cũng thực sự mong muốn lời hứa được thực hiện.
Hành động khảo nghiệm, xác tín, không những đòi hỏi người nói nói một cái gì đó mà còn đòi hỏi anh ta phải có những bằng chứng” [5, tr. Điều kiện chân thành Điều kiện chân thành là “ở đâu mà một trạng thái tâm lý được định rõ trong điều kiện chân thành, thì việc thực hiện hành động được xem như một biểu hiện của trạng thái tâm lý ấy. Quy luật này có giá trị cả khi hành động đó là chân thành lẫn khi nó không là chân thành, có nghĩa là dù cho người nói thực sự có trạng thái tâm lý đã được định rõ đó hay là không có nó cũng thế” [3, tr. Tuy đã được giải thích như vậy nhưng về sau (năm 1975), Searle vẫn đổi tên điều kiện này thành “Những khác biệt trong trạng thái tâm lý được biểu hiện”.
Có thể hiểu là khi người nói thực hiện hành động hứa thì trạng thái tâm lý khi đó là chân thành, trong trường hợp thực tế người đó có chân thành hay không nó vẫn là hành động hứa. Điều kiện chân thành không có trong hành động chào. Có thể hiểu, điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tâm lý tương ứng của người phát ngôn. Hành động xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín; hành động ra lệnh đòi hỏi lòng mong muốn; hành động hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nói.
Qua đó cho thấy điều kiện chân thành hiểu theo kiểu này thì khó có thể kiểm tra, vì trong đời sống thực tế, việc hứa hão, bịa chuyện, hỏi cho qua chuyện,. cũng cần thiết trong những trường hợp nhất định. Tình trạng này khiến chính tác giả phải điều chỉnh lại cách gọi tên của điều kiện này. Năm 1975, điều kiện này được đưa ra dưới tên gọi trạng thái tâm lý được biểu hiện.
10 Liên hệ với tên gọi cũ điều kiện chân thành, có thể hiểu tên gọi mới này là người nói có chân thành hay không ta không thể biết được, chỉ biết rằng các trạng thái tâm lý mà người đó biểu hiện trong khi đưa ra phát ngôn đó là khớp với HĐN được anh ta thực hiện thông qua phát ngôn. Nói cách khác, chẳng hạn người nói hứa thật hay hứa hão người nghe không cần biết, chỉ cần xác nhận rằng cái trạng thái tâm lý thúc đẩy anh ta đưa ra lời hứa khớp với các phát ngôn chứa hành động hứa của anh ta. Và người phân tích chỉ căn cứ vào đó mà thôi, không cần biết về độ chân thành của người nói. Điều kiện căn bản Theo tác giả Diệp Quang Ban, “điều kiện căn bản có nội dung chung là người nói chịu ràng buộc với điều người đó nói, tức là người nói không tự mâu thuẫn với mình, hay nói chặt chẽ hơn, người nói chủ tâm rằng phát ngôn này sẽ đặt anh ta vào một sự bắt buộc phải làm HĐN đó, mặt khác, điều kiện này còn là cái cho rằng phát ngôn này (của người nói) được coi là dấu hiệu lịch sự trong việc (người nói) nhận biết người nghe.
Điều kiện cho thấy phát ngôn của người nói có được là do HĐN mà anh ta chủ định thực hiện, cho nên anh ta phải chịu trách nhiệm về hành động đó, và không được phép nói rằng “tôi nói như vậy nhưng tôi không hành động thế”, mặt khác phát ngôn đó còn thể hiện việc người nói đánh giá tích cực năng lực hiểu biết” [3, tr96]. Hiểu chi tiết hơn, điều kiện căn bản được hiểu là “điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi hành động ở lời đó được phát ra”. Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ thực hiện (lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực của nội dung (một lời xác tín buộc người nói phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều nói ra). Bốn điều kiện trên đây không có mặt đồng đều trong tất cả các hành động nói, chúng được sử dụng khác nhau trong các HĐN cụ thể khác nhau, thậm chí có điều kiện không có mặt trong một kiểu HĐN nào đó.
Hành động tái hiện và hành động cầu khiến 1.