chương 1 luận văn đã đưa ra cái nhìn sơ bộ về cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu.1 Rủi ro tín dụng 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp Theo Ủy ban Basel (2005) thì “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay (doanh nghiệp) hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận”. Cũng theo Ủy ban này, một định nghĩa khác được nêu ra là “Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc và/hoặc lãi”. Còn theo tài liệu “Financial Institutions Management - A modern perspective”, A.Lange (2005) định nghĩa “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng (doanh nghiệp), nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thểđược thực hiện cả về số lượng và thời hạn”. Ở Việt Nam, căn cứ Khoản 1, Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04/6/2016 của Thống đốc 9 NHNN thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” 1.2 Các tiêu chí đánh giá rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại - Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu đối với khách hàng là doanh nghiệp: Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam ban hành quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5.
Đây là một chỉtiêu quan trọng đểđánh giá chất lượng tín dụng. Tỷ lệ này càng cao phản ánh mức độrủi ro tín dụng càng cao vì đây là những khách hàng có dấu hiệu khó khăn về tài chính, khó trả nợ cho Ngân hàng. Một TCTD có tỷ lệ nợ xấu dưới 5% được coi là nằm trong giới hạn cho phép, khi tỷ lệ nợ xấu vượt quá tỷ lệ 5% thì tổ chức đó cần phải xem xét, ra soát lại danh mục đầu tư của mình một cách đầy đủ, chi tiết và thận trọng hơn - Hệ số thu nợ đối với khách hàng là doanh nghiệp: Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả trong việc thu nợ của NHTM, hệ số này phản ánh trong một thời kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất định, NHTM thu về bao nhiêu đồng vốn - Vòng quay vốn tín dụng đối với khách hàng là doanh nghiệp: Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng là doanh nghiệp là nhanh hay chậm, vòng quay càng nhanh càng phản ánh kết quả tín dụng tốt 10 - Hệ số rủi ro tín dụng đối với khách hàng là doanh nghiệp: Hệ số này cho thấy tỷ trọng của các khoản mục tín dụng trong hoạt động của NHTM, hệ số này tỷ lệ thuận với lợi nhuận và cũng tiềm ẩn rủi ro rất cao - Hệ số sử dụng vốn đối với khách hàng là doanh nghiệp: Hệ số này phản ánh kết quả sử dụng vốn đểđầu tư của NHTM. Nếu hệ số sửdụng vốn huy động gần bằng 1 (một) thì ngân hàng cần chú ý tăng trưởng nguồn vốn để đề phòng mất khả năng thanh toán.
Nếu hệ số này thấp cần tăng trưởng dư nợ hoặc giảm nguồn vốn huy động để hạn chế rủi ro thừa nguồn vốn gây ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng - Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng: Theo Theo Thông tư số 02/2013/TT- NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam, “dự phòng rủi ro tín dụng gồm dự phòng chung và dự phòng cụ thể. Dự phòng chung được tính bằng 0,75% giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4. Dự phòng cụthể tùy theo cấp độ rủi ro mà tổ chức tín dụng trích lập dự phòng rủi ro: Nhóm 1: 0%, nhóm 2: 5%, nhóm 3: 20%, nhóm 4: 50%, nhóm 5: 100%. Mức dự phòng cũng phụthuộc vào loại và giá trị TSBĐ, giá trị TSBĐ càng lớn thì mức dự phòng phải trích càng nhỏ” (Ngân hàng Nhà nước, 2013).
Như vậy, nếu một ngân hàng có tỷ lệ này càng cao chứng tỏ rủi ro tín dụng càng cao vì dự phòng trích lập nhiều. Điều này làm tăng chi phí của ngân hàng dẫn đến làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, thậm chí còn gây thua lỗ - Nợ xử lí ngoại bảng: Những khoản nợ quá hạn của khách hàng do nhiều nguyên nhân khác được ngân hàng sử dụng nguồn dự phòng rủi ro để bù đắp đồng thời đưa các khoản nợ xấu này ra ngoại bảng nhằm làm sạch bảng cân đối của ngân hàng. ì vậy, tỷ lệ nợ xử lý ngoại bảng so với tổng dư nợ thấp cho thấy công tác thu hồi nợ của ngân hàng tốt, giảm thiểu rủi ro tín dụng, nâng cao uy tín của hoạt động kinh doanh của ngân hàng 11 Ngoài các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá rủi ro tín dụng kể trên, tùy theo tình hình hoạt động của mỗi ngân hàng mà rủi ro tín dụng có thể được đánh giá qua nhiều chỉ tiêu tài chính khác nhau. Hoặc rủi ro tín dụng có thể nằm tiềm ẩn, đan xen trong các loại rủi ro khác mà Hội đồng quản trị, Ban điều hành của ngân hàng cũng như các cơquan giám sát phải có được cái nhìn tổng quan toàn bộ hoạt động của ngân hàng, có sự kết nối các chỉ tiêu tài chính, các dấu hiệu rủi ro để từ đó mới có được những đánh giá chuẩn xác nhất.2 Xếp hạng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp 1.1 Khái niệm xếp hạng tín dụng Bắt đầu từ thập kỷ 1970, dự báo rủi ro tài chính đã trở thành một hướng phát triển mạnh mẽ của mô hình hóa xác suất thống kê.
Khi nhắc tới rủi ro tài chính gần như ngay lập tức người ta liên tưởng tới hoạt động quản lý danh mục đầu tư, định giá quyền chọn (option) và các công cụ tài chính khác. Và xếp hạng tín dụng cũng là một trong những hoạt động nhằm quản lý rủi ro tài chính mà các tổ chức tài chính trên thế giới, thậm chí cả quốc gia quan tâm và ứng dụng từ rất sớm. Xếp hạng tín dụng (credit ratings) là thuật ngữ do Moody đưa ra năm 1909 khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín dụng đầu tiên cho 1500 trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu gồm 3 chữ cái A, B, C được xếp lần lượt từ (AAA) đến (C). Hiện nay, những ký hiệu này trở thành chuẩn mực quốc tế.
Ở Việt Nam thuật ngữ xếp hạng tín dụng đang tồn tại nhiều tên gọi như: xếp hạng tín nhiệm, xếp hạng doanh nghiệp, định dạng tín dụng, xếp hạng KH. Trong đề tài này tác giả dùng thuật ngữ “xếp hạng tín dụng” (XHTD). Cho đến nay, tùy theo góc độ nghiên cứu mà chúng ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này. Theo Moody's: xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của một nghĩa vụ nợ riêng lẻ hoặc của chủ thể phát hành 12 dựa trên các kết quả phân tích tín dụng cơ bản và thể hiện thông qua ký hiệu từ AAA đến C.
Theo Standards & Poor's: xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng, khả năng và sự sẵn sàng thanh toán các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn của một chủ thể phát hành, như một doanh nghiệp, một Chính phủ hay một Ủy ban nhân dân Theo NHCT: khái niệm về XHTD có thể được khái quát một cách đơn giản như sau XHTD có nghĩa là việc phân loại, sắp xếp một đối tượng vào các nhóm khách hàng trên cơ sở đo lường rủi ro tín dụng. Còn Hệ thống xếp hạng tín dụng là một quy trình đánh giá xác suất một khách hàng của ngân hàng không thực hiện được nghĩa vụ tài chính của mình đối với NHCV như không trả được lãi và gốc nợ vay khi đến hạn hoặc vi phạm các điều kiện tín dụng khác.Hệ thống XHTD dùng để đánh giá mức độ tín nhiệm đối với trách nhiệm tài chính của cả 2 nhóm khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân (thể nhân). Qua các khái niệm trên cho thấy, XHTD là công cụ để các nhà đầu tư sử dụng để phân tích, phân loại chủ thể sử dụng vốn theo khả năng hoàn trả vốn cà gốc và lãi trước khi ra quyết định vay hoặc đầu tư. Kết quả XHTD được tính toán dựa trên việc phân tích sự ảnh hưởng của một hệ thống các yếu tố trong quá khứ và hiện tại của người có nhu cầu sử dụng vốn theo những phương pháp khác nhau.
XHTD được tiến hành dựa trên những thông tin thu thập được từ những đối tượng được XHTD, và những nguồn thông tin được coi là đáng tin cậy. XHTD không phải là một sự giới thiệu để mua hay bán một đối tượng nào đó, mà XHTD chỉ thực hiện chức năng độc lập là đánh giá mức độ rủi ro tín dụng hay mức độ tín nhiệm của một đối tượng được xếp hạng. Và kết quả XHTD chỉ là một tiêu chí phục vụ cho quá trình đưa ra các quyết định và có giá trị trong một khoảng thời gian nhất định. Việc thu thập số liệu để đưa vào mô hình XHTD cần được thực hiện một cách khách quan, linh động, có kiểm chứng.
Sử dụng cùng lúc nhiều nguồn thông tin để có 13 được cái nhìn toàn diện về tình hình tài chính của khách hàng vay. Từ đó, các tổ chức tín dụng sẽ ra quyết định tái cấp hay ngưng cấp tín dụng cho KH. Tuy nhiên, như đã nói, XHTD là một nhân tố quan trọng, nhưng không thể thay thế hoàn toàn cho việc thuyết minh về tính đáng tin cậy của đối tượng được XHTD 1.