Đặt vấn đề khu vực nông thôn, bao gồm cả hoạt động nông nghiệp lẫn phi nông nghiệp, hướng vào Hiện nay cơ cấu kinh tế chủ yếu của vùng cả người nghèo và không nghèo. TƠNT bao DHNTB vẫn là nông nghiệp, phát triển kinh gồm các dịch vụ như tín dụng, tiết kiệm, bảo tế nông nghiệp nông thôn vẫn 1a tién dé cho sự hiểm vi mô, chuyển tiền. Phát triển hoạt phát triển kinh tế vùng. Trong xu hướng chung động TCNT có ý nghĩa trong việc giúp tăng đó, sự phát triển hoạt động TCNT có ý nghĩa thu nhập và giảm nghèo đói ở khu vực nông rất quan trọng.
Tuy nhiên, hoạt động TƠNT thôn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xây khu vực DHNTB nhìn chung vẫn còn hạn chế, dựng các tổ chức TCƠNT bền vững. Vì vậy, chỉ dừng lại ở dịch vụ tín dụng, chưa khai thác Chính phủ, đặc biệt là ở các nước đang phát hết tiềm lực hiện có và chưa đáp ứng hết yêu triển, luôn quan tâm đến phát triển kinh tế cầu của người dân. Các chính sách tín dụng nông nghiệp nông thôn. Có hai cách can thiệp ưu đãi của Chính phủ vẫn còn nhiều bất cập vào thị trường TỔNT: sau khi triển khai.
Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần phải có những biện pháp để giải quyết Thứ nhất, dựa trên hướng tiếp cận truyền những vướng mắc còn tổn tại và hướng tới một thống, quan niệm rằng: (¡) Nông dân là những thị trường TCNT lành mạnh, tạo động lực cho người nghèo không thể tiết kiệm, thiếu khả phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn. năng tiếp cận tín dụng; (i) Những người cho vay phi chính thức lấy mức lãi suất “cắt Cơ sở lý thuyết cổ”; (ii) Các khoản vay ngắn hạn phi chính thức với lãi suất cao được xem là không thích TCỔNT là các dịch vụ tài chính tập trung vào hợp cho đầu tư sản xuất vốn được coi là cần khu vực hộ gia đình và các doanh nghiệp ở thiết cho sự thay đổi về công nghệ và phát 10] congnghe ngan hang Số 89 ®Tháng 8/2013 HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH NÔNG THÔN, TÀI CHÍNH VI MÔ, BẢO HIỂM VI Mô <<<<< triển bền vững. Do đó, Chính phủ cần can Hoạt động tài chính nông thôn khu vực thiệp bằng các chính sách tín dụng trực tiếp Duyên hải Nam Trung bộ cho nông nghiệp, thông qua các tổ chức tài chính nhà nước, để khắc phục những khiếm Hiện nay, chính sách phát triển thị trường khuyết nêu trên của thị trường tài chính. TCNT Viét Nam nói chung và khu vực DHNTB Các chương trình xóa nợ cũng thường được nói riêng đang dựa trên cách tiếp cận truyền sử dụng để giảm gánh nặng của những chủ thống về TCƠNT, thể hiện ở một số điểm: thể được ưu tiên vay (Naragajan và Meyer, 2005).
Phần lớn các chương trình tín dụng - Nhà nước áp dụng chính sách tín dụng ưu của Chính phủ dựa trên cách tiếp cận này đã đãi, hỗ trợ lãi suất và khuyến khích cho vay thất bại, như Bangladesh, Ấn Độ, Thái Lan lãi suất thấp đối với khu vực nông nghiệp, (Corpuz và Kraft, 2005). Lãi suất thấp không nông thôn, qua hàng loạt các gói tín dụng bù đắp được chi phí, các tổ chức TƠNT không của các Quyết định số 311/QĐ-TTg ngày duy trì được và làm mất lòng tin ở người gửi 07/02/2013 (cho vay tạm trữ thóc gạo), Công tiền. Nợ xấu tăng lên do chính sách tín dụng văn số 1149/TTg-KTN ngày 08/8/2012 (chính rẻ, khuyến khích những khoản đầu tư không sách đối với chăn nuôi và thủy sản), Quyết hiệu quả và dẫn đến việc tập trung danh mục định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/9010 (hỗ cho vay vào tay những người giàu có và thế trợ giảm tổn thất sau thu hoạch). Trong một số trường hợp người đi vay cố tình vỡ nợ vì họ tin rằng Chính phủ sẽ xóa - Chính phủ có chính sách ưu tiên, hỗ trợ cho nợ hoặc sẽ không có những biện pháp mạnh các ngân hàng cung ứng tín dụng cho khu vực đối với người vỡ nợ thuộc lĩnh vực ưu tiên.
nông thôn mà Nghị định số 41/2010/NĐ-CP Kỷ luật tài chính bị tổn thương và định chế (NÐ 41) ngày 12/4/2010 về chính sách tín trung gian bị suy yếu. Nhiều tổ chức tài chính dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông châu Á không trả được nợ, bị đóng cửa hoặc thôn và Thông tư 20/2010/TT-NHNN ngày phải được tái cấp vốn, đôi khi là nhiều lần. 29/9/2010 hướng dẫn các biện pháp điều hành Các kế hoạch tái cấp vốn đã không khuyến công cụ chính sách tiền tệ để hỗ trợ tổ chức khích huy động vốn, làm suy giảm vai trò tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông trung gian tài chính. Do đó, bất kể nền kinh thôn là một ví dụ (giảm dự trữ bắt buộc cho tế được lợi như thế nào, các chính sách tín các ngân hàng có dư nợ cho vay nông nghiệp, dụng trực tiếp sẽ buộc hệ thống tài chính nông thôn cao).
phải chịu chi phí rất cao. - Hau hết các chính sách phát triển kinh tế Thứ hơi, cách tiếp cận mới bắt đầu từ những nông thôn đều tập trung vào tín dụng, chủ năm 1980 thiên về vai trò gián tiếp của Chính yếu là tín dụng sản xuất nông nghiệp mà bỏ phủ, tập trung vào tiết kiệm hơn là tín dụng qua các nhu câu về dịch vụ tài chính khác của và tránh lãi suất trợ cấp. Cách này kêu gọi người dân, như tiết kiệm, bảo hiểm, vay tiêu Chính phủ xác định những nguyên nhân gây dùng, vay sản xuất phi nông nghiệp. Trong NÐ ra thất bại của thị trường và điều chỉnh chúng 41, Chính phủ có ưu tiên khách hàng mua bảo thông qua các sửa đổi hơn là thông qua can hiểm nông nghiệp nhưng điều đó không đủ hấp thiệp trực tiếp vào các trung gian tài chính dẫn để tác động đến việc phát triển dịch vụ (Yaron và các tác giả, 1997).
Sự thành công này ở khu vực nông thôn. Thông tư 02/2008/ của các định chế tài chính vi mô như ngân TT-NHNN ngày 09/3/2005 cũng hạn chế các tổ hàng Greeman (Bangladesh), Ngân hàng Nông chức tài chính vi mô huy động tiết kiệm. nghiệp và Hợp tác xã Nông nghiệp Thái Lan (BAAC) là dẫn chứng cho sự thành công của Các chính sách tín dụng ưu đãi đã có những hướng tiếp cận mới vé TCNT. tác dụng nhất định trong công cuộc xây dựng congnghe NAN hàng Số 89 eTháng 8/2013 >>>>> HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH NÔNG THÔN, TÀI CHÍNH VI Mô, BẢO HIỂM VI MÔ phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo.
dụng chức vụ, quyền hạn của mình để đưa gia Tuy nhiên, nhìn chung hiệu quả của các chính đình, người thân hay quen biết vào các tổ vay sách vẫn chưa đạt kỳ vọng và còn tổn tại vốn. Thực trạng này đã từng diễn ra trong khu những vấn đề: vực và ở nhiều tỉnh khác trong nước (Tấn Lộc, 2005; N.Nhi, 2012; Hồng Kỹ, 2010). Thứ nhất, các chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ chưa phát huy hiệu quả. Thứ ba, chính sách tín dụng rẻ, dẫn đến lãi Lãi suất thấp, tập trung vào việc giải ngân suất thực âm, là tiền đề khiến tổ chức TCNT mà không chú trọng đến tính hiệu quả của chính thức không mặn mà với cho vay nông phương án vay vốn và khả năng trả nợ, khiến nghiệp, bởi vì khu vực này tiềm ẩn nhiều rủi ro người dân lầm tưởng các chương trình này là (thiên tai, dịch bệnh, biến động giá nông sản, một hoạt động xã hội.
Ví dụ, các chương trình nông hộ dễ bị tổn thương trước những biến hỗ trợ người nghèo của Chính phủ thông qua động), chỉ phí cao (do giá trị món vay nhỏ). Ngân hàng Chính sách Xã hội, lãi suất cho Tác giả đã thực hiện khảo sát mạng lưới hoạt vay rất thấp, dao động từ 0-7,8%/năm. Khi động của 38 ngân hàng thương mại (NHTM) được hưởng các ưu đãi này người dân chưa Việt Nam trong khu vực. Kết quả cho thấy, được giải thích về mục đích, ý nghĩa của các tổng số điểm giao dịch của các ngân hàng chương trình, nên đã nảy sinh tâm lý ý lại, trong khu vực là 729, trong đó số lượng điểm trông chờ vào nhà nước, dẫn đến việc sử dụng giao dịch của Agribank là 190, chiếm 26,06% vốn sai mục đích và kéo theo các khoản nợ tổng số điểm giao dịch trên địa bàn (Bảng 1).
xấu hoặc vỡ nợ (Tuấn Minh và các tác giả, Đa số các ngân hàng khác đều hoạt động ở các 2013; Hồng Ánh và Ca Linh, 2013). Không thành phố hoặc thị xã. Chỉ riêng Đà Nẵng và ít người trông chờ cho mình được nghèo, xin Nha Trang đã chiếm tới 56% số lượng điểm được trở lại nghèo và thậm chí là “tố nhau đã giao dịch của toàn bộ các ngân hàng và có giàu”, khiến cán bộ địa phương phải “đi vận sự hiện điện của hầu hết các ngân hàng (Đà động để đưa hộ ra khỏi diện nghèo” (Hồng Nẵng 37, Nha Trang 28), các tỉnh khác cũng Ánh và Ca Linh, 2013). Đó là những ví dụ chủ yếu tập trung ở các thành phố như Quy cho thấy việc hiểu sai ý nghĩa của các chương Nhơn, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Khu kinh tế Dung trình tín dụng đã tạo sức ỳ cho quá trình phát Quất, còn lại khu vực nông thôn chỉ có sự xuất triển kinh tế.
hiện của Agribank. Các ngân hàng chuyên cho vay nông thôn như MHB hay Kienlongbank Thứ hai, chính sách tín dụng rẻ khiến nguồn cũng không có số lượng điểm giao dịch nhiều cung tín dụng không đủ đáp ứng cầu. Đây là ở DHNTB, mà chỉ tập trung ở những thành nguy cơ dẫn đến tệ nạn tham nhũng, hối lộ phố lớn. Kết quả thống kê cho thấy khoảng và tình trạng cán bộ công chức địa phương lợi cách từ xã đến các điểm có thể vay tiển theo Bảng 1: Phân bố các điểm giao dich 6 DHNTB Tỉnh/Thành phố | Các NHTM | Agribank So sanh Lo ee Số QTDND Số tổ chức tài one Da Nang 233 39 16,738 0 7 Quang Nam 54 46 85,185 2 4 Quang Ngai 49 28 57,142 13 4 Binh Dinh 78 27 34,615 27 4 Phú Yên 20 20 100,000 3 Khánh Hòa 105 30 28,571 4 Téng 539 190 35,250 49 26 Nguon: Tac giả tổng hợp từ tuebsite của các NHTM, Bảo hiểm Tiên gửi Việt Nam va NGO Resource Center (2013) congnohe Ngan hang Số 89 ®Tháng 8/2013 HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH NÔNG THÔN, TÀI CHÍNH VI MÔ, BẢO HIỂM VI MÔ <<<<< kênh chính thức còn khá xa (đến ngân hàng thấy được hiệu quả của nó.