Chương 1: Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. ~ Chương 2: Thực trạng chuyển địch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Trả Vinh giai đoạn 1995 - 2009 - Chương 3: Định hướng chuyển dich cơ cấu kinh tế nông nghiệp Trà Vinh đến năm 2020 và các giải pháp thực hiện. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHUYEN DICH CO CAU KIN! TE NONG NGHIEP lột số khái 'm và quan niệm. Cơ cấu kinh tế Để hiểu về cơ cấu kính tế, trước hết phải làm rõ khái niệm về cơ cấu.
Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng, cơ cấu là một khái niệm dùng đẻ chỉ cách thức tô chức bên trong của một tổ chức hệ thống biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc các bộ phận của nó. Trong khi chỉ rõ mỗi quan hệ biện chứng giữa bộ phận và tổng thể, biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng với sự biển đổi của sự vật, hiện tượng. Như vậy có thể thấy nhiễu trình độ, nhiều kiểu tổ chức cơ cấu của khách thể và các hệ thống [25.tr28] Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống phức tạp, được cấu thành bởi nhiều bộ. phận khác nhau.
Tủy theo cách tiếp cận, các bộ phận đó có thẻ là các yếu tố đầu vào. của một quá trình sản xuất gồm: đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật; các khâu trong vòng tuần hoàn của tái sản xuất xã hội gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng; các ngành sản xuất của một nền kinh tế gồm: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Đồng thời giữa chúng luôn có mỗi quan hệ biện chứng với nhau trong quá trình vận động và phát triển, Sự vận động và phát triển của nền kinh tế còn chứa đựng những thay 6i ciacl h bản thân các bộ phận và cách thức quan hệ giữa chúng với nhau trong mỗi thời điểm và mỗi điều kiện cũng khác nhau. Do đó, có thể khái quát cơ cấu kinh tế là tổng thể những mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong không gian, thời gian và điều kiện KT - XH nhất định [25 tr29| Co cấu kinh tế được hình thành và phát triển dựa trên những cơ sở chủ yếu sau: ~ Cơ cầu kinh tế là một tông thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan.
hệ chặt chế với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện xã hị `, hướng vào các mục. ~ Cơ cầu kinh tế là kết quả của sự phân công lao động xã hội, được bắt ảng việc tăng năng suất lao động và sự phát triển của các mỗi quan hệ trao đổi hàng hóa, tiền tệ ~ Cơ cấu kinh tế phản ánh sự tương tác sống động giữa các yếu tố của lực lượng. sản xuất và quan hệ sản xuất, trong đó vai trò quyết định là sự phát triển của lực lượng sản xuất - Cơ cấu kinh tế có sự cân đối, đồng bộ giữa các bộ phận trong một hệ thống với các cấp độ khác nhau gắn với thời gian, không gian và đặc điểm chỉnh trị kinh tế-xã hội nhất định nhằm đảm bảo sự phát triển và tái sản xuất cả về kinh tế và xã hội. Tóm lại, bản chất của cơ cấu kinh tế là sự biểu hiện của các mồi quan hệ giữa.
các yếu của các quá trình sản xuất xã hội, đó là mối quan hệ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất nhưng không đơn thuần chỉ là những quan hệ về mặt số lượng và u t6, biểu hiện về lượng hay sự tăng trưởng của một hệ thống, mà là mối quan hệ bên trong và bên ngoài của các yêu tổ đó biểu hiện hay sự phát triển của hệ thống [38, tr 11] Mặc khác cơ cấu kinh tế thường gồm ba phương diện hợp thành, đó là: - Cơ cấu ngành kỉnh tế ~ Cơ cấu thành phần kinh tế - Cơ cấu lãnh thé Chỉ tiêu kinh tế làm cơ sở để biểu hiện cơ cấu là GDP (tổng sản phẩm nội địa) “Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mỗi quan hệ giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngảnh kinh tế phản ánh phần nảo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động. xã hội của một quốc gia Cho đến nay, trên thế giới về cơ bản có hai hệ thống phân ngành kinh tế, đó là Hệ thống sản xuất vật chất (Material Production System - MPS) - duge ap dung véi nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung hóa vi Hé thdng tai khoản quốc gia (System of Nationnal Accounts - SNA) - được áp dụng với nền kinh tế thị trường Theo hệ thống tài khoản quốc gia, nền kinh tế thường được phân thành 3 khu vực: khu vực I gồm các ngành hoạt động nhằm khai thác các của cải từ thiên nhiên (nông, lâm, thủy sản): khu vực II gồm các ngành hoạt động nhằm thay đổi hình thái của những cải vật chất (công nghệ chế tạo, cl ín, xây dựng); khu vực III nhằm. cung ứng những địch vụ có ích cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội (thương nghiệp, bưu điện, vận tải, bảo hiểm, các địch vụ đời s ng, dịch vụ quản lý nhà nước, hoạt động.
đoàn thể, từ thiện, tôn giáo [2, tr 18], Trong mỗi khu vực được phân thành các ngành kinh tế cấp I và dưới ngành cấp1 được phân thành cấp 2, cắp 3, cắp 4. Sự phân chia các ngành như trên không phải là cách đuy nhất mà có sự khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm, trình độ phát triển của nền kinh tế và cơ chế quản lý của mỗi nước nhưng có một điểm chung là thông qua quá trình vận động và mối liên hệ giữa các ngành, có thể tìm được cách duy trì một cơ ấu hợp lý và có thể lựa chọn được những lĩnh vực cần tu tiên đầu tư các nguồn lực nhằm thúc đây nền kinh tế phát triển một cách hiệu quả nhất. Đối với nước ta, theo quyết định số 10/2007/QĐ-TTG ngảy 22/1/2007 của Thủ. tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, nền kinh tế nước ta được chia thành 21 ngành kinh tế cấp 1, 8§ ngành kinh tế cấp 2, 242 ngành kinh tế cấp 3, 437 ngành kinh tế cấp 4 và 642 ngành kinh tế cắp 5.
Cơ cẩu thành phần kinh tế gắn liền với các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và xu hướng chung là lực lượng sản xuất ngảy càng phát triển, các hình thức sở hữu. ngày cảng đa dạng. Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu là một thành phần kinh tế "Tuy nhiên, ngày nay giữa các hình thức sở hữu có sự đan xen lẫn nhau tùy thuộc vào sự phát triển của các nền kinh tế, dẫn đến sự phân chia nền kinh tế theo các thành phần kinh tế ngày càng phức tạp. Từ mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế trong, quá trình vận động người ta có thể thấy được xu hướng phát triển và vai trò của từng thành phần kinh tế đề từ đó có thể đưa ra các giải pháp tác động phủ hợp với yêu cầu phát triển chung của kinh tế Cơ cầu lãnh thổ phản ảnh sự phân công lao động xã hội về mặt không gian địa lý.
Thực chất của việc phân chia này là để làm cơ sở cho hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch phát triển, thực thi chính sách sát thực và phủ hợp với đặc điểm của từng vùng nhằm đạt hiệu quả cao trên từng vùng và toàn lãnh thổ. Ty theo mục đích quản lý mã có thể phân chia lãnh thổ của một quốc gia thành các vùng với những đặc trưng về mặt kinh tế khác nhau. Trong nông nghiệp, cách phân chia lãnh thé thành các vùng sinh thái nông nghiệp mang ý nghĩa cực kì quan trọng, vì từ đó có thể xác lậ trồng vàvật nuôi hợp lý, vừa cho phép khai thác được lợi thể của mỗi vùng, vừa khắc phục tình trạng phát triển dàn trải, thiếu tập trung để có thể hình thanh được các vùng sản xuất chuyên canh có khối lượng hàng hóa lớn, đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường và thúc đây chuyên dịch cơ. cấu kinh tế.
Các cơ cấu kinh tế theo ngành, theo thành phần và theo vùng kinh tế là sự biểu. hiện về bản chất ở những khía cạnh khác nhau của một nền kinh tế, giữa chúng có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong đó cơ cấu theo ngành giữ vai trò chủ đạo trong toản bộ quá trình phát triển, cơ cấu theo thành phần kinh tế giữ vai trò quan trọng để thực hiện cơ cấu ngành và cơ cấu theo vùng là cơ sở cho các ngảnh, các thành phần kinh tế phân bố hợp lý các nguồn lực, tạo sự phát triển đồng bộ, cân đổi và hiệu quả cao giữa các ngành và giữa các thành phần kinh tế của một nền kinh tế. Đồng thời, việc phân bố sản xuất trên những vùng lãnh thổ một cách hợp lý còn có ý nghĩa quan trong việc thúc đây phát triển các ngành và thành phần kinh tế trên vùng lãnh thổ. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội.
Ngành này sử dụng đất đai đẻ trồng trọt, chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho ngành công nghiệp. Nông nghiệp được xem là ngành kinh tế rất quan trọng, là cơ sở để phát triển các ngành kinh tế khác. Theo nghĩ hẹp, nông, nghiệp bao gồm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, còn theo nghĩa rộng, nó bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể bao gồm các mỗi quan hệ tương tác giữa các yếu tổ của lĩnh vực sản xuất và quan hệ sản xuất thuộc các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp trong khoảng thời gian và điều kiện KT~ XH cụ thể, Nó được biéu hiện bằng sự tương quan về số lượng và chất lượng của các mối quan hệ nói trên.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm cả cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế cơ cấu vùng chuyên môn hóa theo lãnh thỏ. Trong bản thân từng phân ngành của nông nghiệp cũng tồn tại cơ cầu ngảnh. Chuyển dịch cơ cầu kinh tế Trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, co cau kinh tế luôn thay đồi.