Chương 1: Cơ sở lí luận về cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế - Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Điện Biên từ năm 2003 đến 2010 - Chương 3: Những quan điểm và giải pháp chủ yếu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Điện Biên đến năm 2015 5 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ 1. Cơ cấu ngành kinh tế 1. Khái niệm - Cơ cấu là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như một thuộc tính của sự vật, hiện tượng, và biến đổi cùng với sự biến đổi của sự vật, hiện tượng.
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều trình độ, nhiều kiểu tổ chức cơ cấu của các khách thể và các hệ thống. Cũng như vậy, đối với nền kinh tế quốc dân, khi xem nó là một hệ thống phức tạp thì có thể thấy rất nhiều các bộ phận và các kiểu cơ cấu hợp thành chúng, tùy theo cách mà chúng ta tiếp cận khi nghiên cứu hệ thống ấy. Đặc biệt, sự vân động và phát triển của nền kinh tế theo thời gian bao hàm trong đó sự thay đổi bản thân các bộ phận cũng như sự thay đổi của các kiểu cơ cấu. Vì vậy, có thể thấy rằng, " cơ cấu của một nền kinh tế quốc dân là tổng thể về mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành đó trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định".
Phân loại cơ cấu kinh tế Mỗi loại cơ cấu phản ánh những nét đặc trưng của các bộ phận cấu thành cơ cấu đó và các cách mà chúng tác động qua lại với nhau trong quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu kinh tế của một nước được xác định theo nhiều tiêu thức, trong đó có ba tiêu thức chủ yếu: cơ cấu kinh tế ngành (công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ) cơ cấu kinh tế vùng và cơ cấu thành 6 z phần kinh tế. Trong các cơ cấu kinh tế nêu trên, cơ cấu ngành kinh tế là cơ cấu có tầm quan trọng đặc biệt, thường được xem là cốt lõi của nền kinh tế. - Cơ cấu ngành kinh tế Là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các ngành với nhau.
Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể. Sự phát triển của nền sản xuất xã hội từ kinh tế tự nhiên tới kinh tế hàng hóa cũng có nghĩa là xuất hiện của những ngành sản xuất độc lập nhau, dựa trên những đối tượng sản xuất khác nhau. Sản xuất càng phát triển thì tập hợp ngành kinh tế quốc dân càng trở lên phức tạp và đa dạng. Ở đây, cơ cấu ngành kinh tế biểu hiện ra dưới các hình thức ngành lớn (ngành cấp I): nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; các phân ngành (ngành cấp II): chăn nuôi, trồng trọt… trong nông nghiệp; cơ khí, luyện kim, năng lượng… trong công nghiệp…; ngành cấp III (lúa, màu…) trong trồng trọt, v.v… Sự vận động của các ngành kinh tế và mối liên hệ của nó vừa tuân theo những đặc điểm chung của sự phát triển sản xuất xã hội, lại vừa mang những nét đặc thù của mỗi giai đoạn và mỗi quốc gia và nhỏ hơn nữa là của mỗi vùng mỗi địa phương trong một quốc gia.
Vì vậy, việc nghiên cứu loại hình cơ cấu này là nhằm tìm ra những cách thức duy trì tính tỉ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có hạn của quốc gia trong mỗi thời kỳ nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. - Cơ cấu vùng kinh tế Loại cơ cấu này phản ánh những mối liên hệ kinh tế giữa các vùng lãnh thổ của một đất nước trong hoạt động kinh tế. Thường người ta phân tích những thế mạnh hiện thực và tiềm năng của từng vùng để từ đó hình thành lên 7 z tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất nhằm phát huy tới mức cao nhất sức mạnh kinh tế của từng vùng và toàn bộ nền kinh tế. Ngoài các vấn đề kinh tế, nó thường gợi ý về việc đẩy nhanh sự phát triển xã hội ở những vùng có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển làm động lực cho cả nền kinh tế hoặc những vùng nào đó bị lạc hậu trong mối tương quan với các vùng khác để nâng cao mức độ đồng đều về phát triển kinh tế và xã hội của cả nước.
- Cơ cấu thành phần kinh tế Loại cơ cấu này phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất xã hội, trong đó nổi bật lên hàng đầu là quan hệ về sở hữu đối với các tư liệu sản xuất. Xã hội loài người đã từng phát triển qua các hình thái kinh tế - xã hội lần lượt từ thấp đến cao và trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có các cơ cấu quan hệ sản xuất khác nhau. Ở một số nước, những hình thức sở hữu cổ xưa không còn nữa; ở một số nước khác, do những hoàn cảnh lịch sử khác, sự đan xen của nhiều loại hình sở hữu cùng tồn tại. Các mối quan hệ này biểu hiện ra bên ngoài bề mặt xã hội với tư cách là các thành phần kinh tế khác nhau.
Do vậy, cơ cấu các quan hệ sản xuất và cơ cấu các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân được hiểu như nhau hay đồng nhất với nhau. Nghiên cứu cơ cấu các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân sẽ cho thấy xu hướng vận động của từng thành phần kinh tế trong quá trình phát triển nền sản xuất xã hội. Việc phân chia các loại cơ cấu kinh tế như trên không phải là cách phân loại duy nhất, lại càng không phải có từng ấy loại cơ cấu kinh tế. Thực tế, tùy theo mục đích nghiên cứu mà người ta có thể phân chia theo các cách khác nhau, và trong mỗi loại cơ cấu này, đến lượt nó lại bao hàm nhiều kiểu cơ cấu khác nữa.
Đề tài văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề của cơ cấu ngành kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và những nhân tố ảnh hƣởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 8 z 1. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và ý nghĩa của nó 1.Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và ý nghĩa của nó Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu ngành kinh tế là một phạm trù động, nó luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định. Quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế không chỉ là sự thay đổi về số lượng các ngành, tỷ trọng của mỗi ngành mà còn bao gồm sự thay đổi về vị trí, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại, phù hợp hơn. Nghiên cứu cơ cấu ngành và xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành có ý nghĩa quan trọng. Bởi vì, quá trình phát triển kinh tế cũng đồng thời là quá trình làm thay đổi các loại cơ cấu kinh tế nêu trên, cả những quan hệ về tỷ lệ về số lượng và chất lượng.
Đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa với những đảo lộn cách mạng về phương thức sản xuất, cũng đồng thời là quá trình có sự thay đổi rất lớn về các loại cơ cấu, trước hết là cơ cấu ngành kinh tế. Sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Lực lượng sản xuất càng phát triển tạo điều kiện cho phân công lao động xã hội trở nên sâu sắc. Sự phát triển của phân công lao động xã hội đến lượt nó lại càng làm cho các mối quan hệ kinh tế thị trường càng được củng cố và phát triển.
Trạng thái cơ cấu ngành kinh tế là dấu hiệu phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một quá trình diễn ra liên tục gắn với quá trình phát triển 9 z kinh tế. Ngược lại nhịp độ phát triển, tích chất bền vững của quá trình tăng trưởng lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên trong, bên ngoài và các lợi thế tương đối của nền kinh tế. Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế với sự phát triển chung của nền kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng vì gắn với nó là cả môt động thái phân bổ các nguồn lực hạn hẹp của một quốc gia trong những thời điểm nhất định.
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cho biết tính hiệu quả của việc phân bổ nguồn lực. Chính vì vậy, ngày nay kinh tế học phát triển coi chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một trong những nội dung trụ cột phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế. Sự khẳng định này là bước tiến rất quan trọng trong nhận thức lý luận và tư duy chính sách kinh tế. Bởi vì, trên thực tế cho thấy, có những quốc gia tuy đạt mức độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng cơ cấu của nền kinh tế lại ít có sự thay đổi, thậm chí có sự tách rời giữa khu vực công nghiệp hiện đại với các khu vực nông nghiệp lạc hậu, và do đó, khu vực nông nghiệp với đông đảo nông dân nghèo khổ vẫn không được chia sẻ những thành quả của tăng trưởng kinh tế.