CHƯƠNG I: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUAN LÝ RỦI RO HOAT DONG 1. Tổng quan về quản tri rủi ro hoạt động của NHTM 1. Rui ro và quản ly rủi ro 1. Khái niệm rui ro Khái niện “rủi ro” được nhà kinh tế học người Mỹ Frank H.
Theo đó, “Bat trắc phải được ứng xử theo một cách hoàn toàn khác biệt so với một khái niệm quen thuộc khác — là rủi ro — khái niệm mà từ trước đến nay chưa bao giờ được tách biệt một cách dung đắn với bat trắc,. Một thực tế là, trong một số trường hợp, rủi ro là một thứ dễ đo lường, tuy nhiên, trong một vài trường hợp khác, bat trắc lại hoàn toàn không thể hiện tính chất nay và có những sự khác biệt sâu rộng và quan trọng trong hai khái niệm này phụ thuộc vào việc khái niệm nào được sự hiện điện và vận động. Nó nhự thể là một sự không chắc chắn có thé do lường được, hay rủi ro đích thực, như cách chứng ta vẫn dùng thuật ngữ này, khác xa với một sự không chắc chan không thé do lường được, thứ mà trên thực tế hoàn toàn không chắc chan” Ngày nay, thuật ngữ “Rủi ro” được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như quân sự, chính trị, kinh tẾ, thương mai,. Dù có nhiều ý kiến, khái niệm, quan điểm khác nhau về rủi ro, nhưng nhìn chung lại, có thé hiểu: “Rui ro là một thứ không chắc chắn có ảnh hưởng đến mục tiêu của cá nhân hoặc tổ chức”.
Cách hiểu này sat voi định hướng cua ISO, dam bao đánh giá rủi ro — một sự không chắc chan một cách khách quan, toàn diện thay vì chỉ tập trung vào khía cạnh tiêu cực như trước đây. Từ đó, có những cách ứng xử phù hợp với từng loại rủi ro. Phân loại rủi ro Tuy thuộc vào mục đích nghiên cứu và tiêu chí đánh giá, rủi ro được phan chia theo nhiều loại hình thức khác nhau. Dưới đây là một số hình thức phân loại rủi ro phổ biến.
e Căn cứ vào nguồn gốc và ý nghĩa của rủi ro, rủi ro được phân chia thành 2 loại: - Rủi ro bên trong: Là những rủi ro có nguồn gốc từ trong nội tại của cá nhân, tổ chức VD: Rui ro thiếu nhân sự kế cận,. - Rủi ro bên ngoài: là những rủi ro có nguồn gốc từ môi trường bên ngoài đối với cả nhân, tô chức. e Căn cứ và tính chất rủi ro, rủi ro được phân chia ra thành hai loại: - Rủi ro chủ quan: là những rủi ro phục thuộc vào cách thức hành xử của cá nhân, tổ chức, có thé bị kiểm soát và thay đổi cá nhân, tổ chức đó. Chính vì vậy, rủi ro chủ quan thường dé quản lý hơn, mỗi các nhân tổ chức điều có thé phát hiện ra và xử lý.
Khái niệm này khá gần với rủi ro bên trong. - Rủi ro khách quan: là những rủi ro không phụ thuộc vào cách hang xử của các nhân, tổ chức, khó có thê, thậm chí không bị kiểm soát và thay đổi bởi cá nhân, tổ chức có thé nhận được rủi ro đó, nhưng cũng rất cần ngăn chặn và xử lý. Khái niệm này khá gần với rủi ro bên ngoài. e Căn cứ vảo lĩnh vực bị ảnh hưởng, rủi ro được phân chia thành rất nhiều loại: - Rủi ro pháp lý: Là những rủi ro liên quan đến pháp đến pháp ly VD: Rủi ro kiện tụng, rủi ro cơ quan bị quản lý xử phạt,.
- Rủi ro danh tiếng: Là những rủi ro liên quan đến danh tiếng. VD: Rui ro mat uy tín,. - Rủi ro chiến lược: Là những rủi ro liên quan đến chiến lược. VD: Rủi ro chiến lược không phù hợp,.
- Rủi ro tài chính: Là những rủi ro liên quan đến tài chính. VD: Rui ro mắt vốn, rủi ro vỡ nợ,. - Rủi ro nhân lực: Là những rủi ro liên quan đến nguồn nhân lực. VD: Rủi ro thiếu nhân sự, rủi ro nhân viên gia lận,.
- Rui ro hệ thống: La những rủi ro liên quan đến các hệ thống máy móc, đường truyền, thông tin liên lạc. VD: Rui ro gián đoạn mang Internet,. Khái niệm quan lý rủi ro Rui ro luôn luôn song hang trong mọi hoạt động của bat kỳ một tổ chức nào, ngay từ khi tổ chức đó được hình thành. Chính vì vậy, quản lý rủi ro có ý nghĩa sống còn với sự tồn tại và phát triển của tổ chức.
Nếu kinh doanh mang lại lợi nhuận cho tổ chức, thì quản lý rủi ro chính là hàng rào bảo vệ dé bảo toàn lợi nhận đó, giúp cho tô chức hoạt động an toàn và hiệu quả. Nói cách khác, kinh doanh sinh lợi và quản lý rủi ro là hai mặt không thé tách rời trong một tổ chức, nhằm hướng tới sự phát triển ồn định và bền vững. Nhận diện được rủi ro đã khó, quản lý rủi ro còn khó hơn rất nhiều. Quản lý rủi ro là gì? Quản ly rủi ro như thế nào? Là những chủ đề được nhiều nhà khoa học đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của Tôi.
Có nhiều cách định nghĩa về quản lý rủi ro, nhưng một các tổng quan và đơn giản nhất: “Quản lý rủi ro là những hoạt động và phối hợp nhằm diéu khiển và kiển soát một tổ chức về mặt rủi ro” (ISO 2009, tr2). 5 Như vậy, có thé thấy răng, quan lý rủi ro không thé chỉ là một hoạt động đơn lẻ, mà là sự kết hợp của nhiều hoạt động nhằm tác động đến rủi ro mà một tổ chức phải đối mặt. sự kết hợp đó đòi hỏi những nỗ lực của toàn bộ tổ chức trong nhiều khâu vận hành khác nhau, để đảm bảo quản lý rủi ro hiện hữu và bao trùm trong moi hoạt động của tô chức. Rui ro trong hoạt động của NHTM 1.
Hoạt động của NHTM “NHTM là loại hình ngân hàng xuất hiện dau tiên trên thé giới và ngày nay đã trở thành loại hình ngân hàng lón nhất, phổ biến nhất và có vai trò quan trọng nhất trong các trung gian tài chính. Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, các NHTM cũng phát triển nhanh chóng cả về quy mô và số lượng” Theo Peter S.Rose, “NHTM là loại hình to chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất (đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán) ” (Peter S. Theo đó, NHTM được xem xét dưới góc độ rộng hơn, hoạt động phong phú hơn với “danh mục hoạt động tài chính đa dạng nhất” Tại Việt Nam, căn cứ khoản 2 điều 4, Luật các tổ chức tin dụng (Luật SỐ: 47/2010/QH12) do Quốc Hội ban hành ngày 29/ 06/ 2010 và có hiệu lực từ ngày 01/ 01/2011, quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tin dụng có thể được thực hiện và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”. Tiếp đó, khoản 3 điều 4 luật này có nêu: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tắt cả các hoạt động và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận ”.
Theo đó hoạt động của các NHTM được định nghĩa tại khoản 12 điều 4 Luật này như sau: “Hoạt động ngân hang là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiên gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Tóm lại, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: “Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ, thanh toán qua tài khoản và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Các loại rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động của NHTM Như chúng ta đã biết, hoạt động ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế bởi ngân hàng kinh doanh một loại hàng hóa đặt biệt là tiền tệ. Do vậy, rủi ro trong hoạt động của NHTM cũng có tính đặc thù và rât da dạng.
Hiện nay, các ngân hàng phải đôi mặt với 4 loại rủi ro chính là rủi ro tín 6 dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản và rủi ro hoạt động. Ngoài ra, hoạt động ngân hàng còn phải chịu tác động của hàng loạt các loại rủi ro khác như rủi ro pháp lý, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng,. Theo đó, các loại rủi ro được định nghĩa như sau: 1. Rui ro tín dụng: “Là kha năng một khách hàng vay ngân hàng hoặc một đối tác không thể thực hiện nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã cam kết” (BCBS 2000, tr.
Rui ro thị trường: “Là rửi ro gây ra ton thất xuất phát từ biến động giá cả thị trường” (BCBS 2016, tr. “Rui ro thị trường bao gốm rủi ro lãi xuất, rủi ro tỷ giá, rủi ro giá cô phiếu, rui ro giá hàng hóa”. Rui ro thanh khoản: “La khả năng ngân hàng không dap ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bồ sung với chi phí cao hoặc phải bán tài sản với giá thấp ” (Nguyễn Văn Tién 2010, tr,40). Rui ro hoạt động: “Là rủi ro gây ra ton thất xuất phát từ sự không phù hợp hoặc vận hành không đúng các quy trình nội bộ, con người, hệ thống hoặc do các sự kiện bên ngoài.
Định nghĩa này bao gom rủi ro về pháp lý, nhưng không bao gom rui ro về chiến lược và danh tiếng” (BCBS 2004, tr. Rui ro pháp lý: “Là rui ro ngân hàng gặp phải các van dé bat lợi liên quan đến pháp lý, bao gom nhưng không giới hạn tiền phạt, hình phạt, thiệt hai do những hành động giám sát, cũng nhw các thỏa thuận riêng” (NHNN 2016, tr. Rủi ro chiến lược: “Là rửi ro do ngân hàng không có chiến lược, chính sách ứng phó kịp thời trước các thay đổi môi trường kinh doanh, do các chiến lược, chính sách kinh doanh sai lam” (NHNN 2016, tr. Rui ro danh tiếng: “Là rủi ro do khách hàng, đối tác, cổ dong, nha đâu tư hoặc công chúng có phản ứng tiêu cực về mức độ tín nhiệm của ngân hàng” (NHNN 2016, tr.
Ngân hàng là một trong những lĩnh vực hoạt động đối diện với nhiều rủi ro nhất. Mỗi loại rủi ro có những đặc thù riêng, đồng thời, có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau, đều có thé gây ta những ton thất lớn cho ngân hàng.