Chương 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE CHUNG MINH TRONG TO TUNG HINH SU 1. Khái niệm chứng cứ va chứng minh 1. Khái niệm chứng cứ Trong quá trình THTT, CQDT, VKS va TA muốn làm sáng tỏ và có kết luận chính xác về tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội thì phải dựa vào chứng cứ. Chứng cứ là phương tiện để chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội.
Lịch sử pháp luật tố tụng hình sự tôn tại các quan điểm khác nhau về chứng cứ trong TTHS. Quan điểm về chứng cứ của trình tự tố tụng kiểu tô cáo rất đơn giản, kiểu tố tụng này coi lời thú tội của bị cáo chứng cứ tốt nhất và là “Vua của các chứng cứ”. Kết quả của án kiện phụ thuộc vào những chứng cứ như quyết đấu, lời thề hoặc xét xử theo ý trời. Trong đó quyết dau và xét xử theo ý trời là chứng cứ đáng tin cậy hơn cả.
Việc quyết đấu trước tòa án và việc thử thách bằng lửa hoặc nước sẽ quyết định số phận của bị cáo. Kẻ nào tay bị chói chặt nhúng xuống nước mà không bị chìm, kẻ nào khi nhúng tay vào nước sôi mà tay không bị thương thì sẽ là kẻ chiến thắng, kẻ nào thắng trong cuộc quyết dau thì kẻ đó không có tội và được coi là phải [59]. Vì vậy, quan điểm về chứng cứ của hình thức tô tụng này thê hiện sự tàn bạo và mang tính chất mê tín, việc thu thập chứng cứ theo hình thức này không đảm bảo tính khách quan trong việc chứng minh vụ án hình sự. Quan điểm về chứng cứ theo kiểu tố tụng thâm van là quan điểm hình thức về chứng cứ.
Chứng cứ hình thức có nghĩa là hiệu lực của chứng cứ tố tụng được luật quy định trước.Trong quan điểm chứng cứ kiểu tố tụng này TP và DTV không suy luận, không phân tích các sự việc, không đánh giá chứng cứ trên cơ sở chất lượng, bản chất, tính khách quan và sức thuyết phục của chúng. Nhiệm vụ duy nhất của TP hoặc DTV là xác định số lượng chính xác mỗi loại chứng được quy định trong luật để chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, họ không cần phải tìm thêm chứng cứ nào khác. Ngược lại khi không tìm đủ số lượng chứng cứ mà luật đã quy định thì không có căn cứ kết luận tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Quan điểm này tuy hạn chế được sự tuỳ tiện của các cơ quan tố tụng trong việc giải quyết VAHS, nhưng nó cũng bộc lộ nhiều hạn chế là không bảo đảm tính khách quan của chứng cứ.
Quan điểm hình thức về chứng cứ phát triển và ảnh hưởng đến hau hết các nước châu Au từ thé kỷ XVI đến thé kỷ XVIIL Ngày nay, luật chứng cứ Anh — Mỹ người ta đặc biệt quan tâm đến tính hình thức và tính hợp pháp của chứng cứ nên họ xem luật chứng cứ là: Tổng hợp các quy phạm điều chỉnh về tính hợp pháp của chứng cứ [19]. Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về chân lý và con đường nhận thức chân lý, con người có khả năng nhận thức các quy luật, hiện tượng của thế giới khách quan và tìm ra chân lý. Quá trình nhận thức của con người từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất. Về nguyên tắc, không có sự vật, hiện tượng nào là không thể nhận thức được, mà chỉ có sự vật, hiện tượng chưa được nhận thức mà thôi.
Chân lý trong VAHS là mục tiêu mà toàn bộ hoạt động điều tra, truy tố và xét xử phải làm sáng tỏ trong quá trình chứng minh vụ án. Các luật gia Xô - Viết trước đây cho rằng muốn làm rõ khái niệm về chứng cứ cần thiết phải xác định được những dấu hiệu cơ bản của nó, đó là: Những tài liệu thực tế, những tài liệu này được dùng làm phương tiện để xác định các sự kiện và các tình tiết khác; Là tài liệu thực tế xác định các tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn VAHS; Chứng cứ phải được thể hiện đưới các hình thức TTHS mà luật đã quy định [19]. Quan điểm về chứng cứ của các luật gia Xô -Viết trước đây đã dé cập đến các đặc điểm của chứng cứ là tính khách quan, tính liên quan và tinh hợp pháp. Có một số quan điểm khác về khái niệm chứng cứ như: "Theo nghĩa rộng, chứng cứ là một sự kiện được giả định là có thật, sự kiện ay được coi như một sự kiện đương nhiên làm lý do dé tin tưởng việc có hay không có một sự kiện khác” [10,tr.68], theo quan điểm này thì chứng cứ mang tính chất chủ quan, nó được xác định hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người sử dụng, không phản ánh đúng diễn biến khách quan của tội phạm.
Hoặc "Tất cả cái gì ở trong thế giới vật chất, tất cả cái gì mà chúng ta có thé lĩnh hội được trong thế giới tinh thần, đều có thé trở thành chứng cứ tố tung" [10,tr.68], quan niệm như vậy về chứng cứ là quá rộng, dé mat trọng tâm quá trình chứng minh VAHS. Trong các công trình nghiên cứu luật TTHS ở Việt Nam, có một SỐ công trình đã đưa ra khái niệm về chứng cứ như: Chứng cứ là những gì có thật, có liên quan đến VAHS, được CQDT, VKS, TA dùng làm căn cứ dé xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn VAHS [53,tr. Khái niệm nay đã nói đến tính khách quan và tính liên quan của chứng cứ, nhưng không nói đến tính hợp pháp của chứng cứ. Nguyễn Văn Du: Chứng cứ trong VAHS là những thông tin có thật phản anh sự thật khách quan, được thu thập theo trình tự, thủ tục do bộ luật này qui định mà CQDT, VKS và TA dùng làm căn cứ dé chứng minh tính chân lý của vụ án [13].
Nghiên cứu khái niệm này chúng ta thấy, về mặt ngôn ngữ thông tin có nghĩa là " truyền tin cho nhau " [37,tr.920], nên khái niệm nêu trên không bao hàm được sự đa dạng của chứng cứ, như vật chứng, tài liệu, đồ vật.và vì vậy đã hạn chế nguồn của chứng cứ. Có khái niệm khác về chứng cứ thể hiện được nguồn của chứng cứ cũng như tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp của chứng cứ nhưng lại thiếu chủ thé có thâm quyên thu thập: Chứng cứ là những gi có thật được xác định bằng các nguồn nhất định và được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật TTHS quy định ma CQDT, VKS và TA dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn VAHS [52. Quyền thu thập chứng cứ ở các mô hình tố tụng khác nhau có sự khác nhau nhất định, qua nghiên cứu chúng ta nhận thấy: Ở giai đoạn điều tra ở mỗi mô hình tố tụng khác nhau cũng có sự khác nhau nhất định. Tuy nhiên ở giai đoạn này hầu hết các nước trên thế giới đều ghi nhận chức năng điều tra thuộc về CQDT mà trực tiếp là DTV.
Theo truyền thống pháp luật nước ta, chức năng thu thập chứng cứ ở giai đoạn này thuộc về CQDT trực tiếp là DTV, VKS trực tiếp là KSV va một số chủ thé khác được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra trong những trường hợp quy định tại Điều 111 BLTTHS. Ở các nước theo truyền thống án lệ thì song song với việc điều tra của DTV, Luật sư cũng có quyền thu thập chứng cứ tiễn hành điều tra thực hiện chức năng gỡ tội cho bị can, bị cáo. Như vậy, phạm vi chu thể thu thập chứng cứ không chỉ là ĐTV mà còn có cả KSV và Luật sư. Ở giai đoạn này thu thập chứng cứ là dé xay dung, thiét lap hồ sơ vu án; Ở giai đoạn truy tố, việc thu thập chứng cứ mang tính chất bồ sung, có thé là tự KSV điều tra hoặc quyết định trả hồ sơ cho CQĐT điều tra.
Trong trường hợp hồ sơ trả lại cho CQDT thì do DTV thực hiện điều tra trong thời hạn luật định mà không phụ thuộc vào thời gian truy tố. Vì vậy, chủ thé thu thập chứng cứ trong giai đoạn truy tố là KSV; Ở giai đoạn xét xử, có thé phân thành giai đoạn thụ lý hồ sơ và giai đoạn mở phiên tòa. Ở giai đoạn thụ lý hồ sơ do VKS chuyên sang cùng với bản cáo trạng, chủ thé giải quyết vụ án là TP được phân công. Sau khi nhận hồ sơ TP tiến hành phân tích đánh giá chứng cứ trong hồ sơ, nếu thay thiếu chứng cứ mà không thé bồ sung tại phiên tòa được thì TP quyết định trả hồ sơ cho VKS dé điều tra bổ sung, cả hai trường hợp này TP dé không tự mình tiến hành thu thập chứng cứ.
Day là trường hợp pháp luật TTHS quy định nghĩa vụ chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội thuộc về cơ quan THTT. Ở các nước theo truyền thống án lệ TP giải quyết vụ án có vai trò như một trọng tài phân xử, TP không được nghiên cứu hồ sơ vụ án, chứng cứ do các bên buộc tội (CQDT, Cơ quan công tố) và bên bào chữa (Luật sư) cung cấp. Như vậy, ở giai đoạn trước khi mở phiên tòa các nước trên thế giới đều không quy định việc thu thập chứng cứ. Còn tại phiên tòa, ở các nước quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan THTT, HĐXX được hỏi toàn bộ chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Trong qua trình xét hỏi HĐXX có thé yêu cầu các bên tham gia cung cấp chứng cứ mới. Tại phiên tòa, KSV, Luật sư và những người tham gia tố tụng cũng có quyền hỏi những người tham gia tố tụng khác về vụ án, nhưng đây không được xem là việc thu thập chứng cứ mới mà chỉ có thé là việc phát hiện chứng cứ mới còn việc kiểm tra, thu giữ ghi nhận và bảo quan là do HDXX quyết định. Như vậy, việc thu thập chứng cứ ở giai đoạn xét xử thực chất là thu thập chứng cứ tại phiên tòa được thực hiện bởi HĐXX.