đặt vấn đề hết sức độc đáo của mình, Cantơ đã hình thành triết học phê phán và quan niệm về chủ thể nhận thức tiên nghiệm và khả năng của nó trong nhận thức luận trên cơ sở dung hòa hai trƣờng phái triết học duy lý cực đoan và duy kinh nghiệm cực đoan. Có thể nói, trong bối cảnh xã hội Đức có trình độ lạc hậu hơn rất nhiều so với một số nƣớc phát triển tƣ bản chủ nghĩa đi đầu ở Tây Âu, triết học I.Cantơ là sự khai phá tiến bộ trên lĩnh vực tƣ tƣởng. Những tiền đề tư tưởng cho sự ra đời nhận thức luận của Cantơ a. Chủ nghĩa duy kinh nghiệm nhƣ là cơ sở lý luận cho nhận thức luận của Cantơ Bƣớc sang thời kỳ Cận đại, bắt đầu từ thế kỷ thứ XVII, các nƣớc Tây Âu đã đạt đƣợc sự phát triển khá thịnh vƣợng về kinh tế - xã hội.
Giai cấp tƣ sản ngày càng khẳng định đƣợc vai trò và vị thế của mình trong đời sống xã hội. Họ tập hợp lực lƣợng chống lại chế độ phong kiến lỗi thời, và điều này đã có những ảnh hƣởng không nhỏ tới tất cả các lĩnh vực văn hóa – xã hội trong 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đó có triết học, đặc biệt phải kể đến triết học ở Anh. Lúc này Anh đã trở thành một cƣờng quốc tƣ bản lớn và các nhà triết học Anh cũng trở thành ngọn cờ lý luận của giai cấp tƣ sản trong cuộc cách mạng tƣ sản (1642-1648). Không những thế, sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất và khoa học thực nghiệm đã có những tác động không nhỏ đến lập trƣờng tƣ tƣởng của các nhà triết học Anh.
Họ là những nhà tƣ tƣởng đầu tiên đƣa ra các phƣơng pháp khoa học cho việc phát triển tri thức và cố gắng sử dụng các phƣơng pháp này cho hoạt động triết học. Do vậy, trong số họ, nhiều nhà triết học thời kỳ này đã đề cao vai trò của thực nghiệm, của cảm tính trong nhận thức và đặc biệt vai trò của chủ thể nhận thức. Quan niệm này là sự đúc rút những giá trị hợp lý trong nhận thức luận của các nhà triết học cổ đại nhƣ Arixtốt, Đêmôcrit, và phƣơng pháp tƣ duy khoa học mới của các ông trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ. Để hiểu thấu đáo hơn về chủ nghĩa duy kinh nghiệm với tƣ cách là một trong những tiền đề lý luận cho sự hình thành quan niệm của Cantơ về chủ thể nhận thức, cần xem xét cụ thể sự phát triển tƣ tƣởng của một số đại diện tiêu biểu trong thời kỳ này.
* Xu hướng duy cảm trong nhận thức luận của Ph.Mác đánh giá là “Ông tổ của chủ nghĩa duy vật Anh và khoa học thực nghiệm” [68, tr.Bêcơn tự nhận nhiệm vụ cải cách triết học và khoa học. Khởi điểm lý luận nhận thức của Bêcơn là sự phê phán của ông đối với lối học truyền thống trong đó theo ông là học thức đã bị ngƣng trệ. Khoa học bị đồng nghĩa với học thức, và học thức chỉ có nghĩa là đọc các tác phẩm cổ: “Việc học y khoa chẳng hạn, chủ yếu là lối từ văn chƣơng và đƣợc thực hành bởi các nhà tu từ, nhà thơ và các giáo sĩ mà trình độ thực hành của họ đƣợc đánh giá bằng khả năng trích dẫn Hiporates và Galen. Triết học vẫn còn bị thống trị bởi Plato và Aristotle và những lời giảng dạy của họ chỉ là những bóng ma” [53, tr.
19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi Bêcơn nhấn mạnh lợi ích của học thức coi “tri thức là sức mạnh”, ông đặc biệt bị kích động bởi tính “vô bổ của lối học truyền thống”. Cái làm cho lối học này vô bổ đó là khoa học bị pha trộn với mê tín. Theo ông, trong đƣờng lối khoa học này thiếu phƣơng pháp thích hợp để khám phá xem thiên nhiên là gì và nó hoạt động ra sao. Nhiệt thành ủng hộ sự phát triển của khoa học với hoài bão xây dựng một cách nhìn mới về thế giới thực sự khách quan, ông cũng chỉ ra những hạn chế trong khả năng nhận thức của con ngƣời.
Những hạn chế không phải chỉ dẫn đến những sai lầm vụn vặt và nhất thời, mà là những sai lầm nghiêm trọng không thể tránh khỏi của con ngƣời trong nhận thức. Ông gọi chúng ta là những ảo tƣởng (idola - theo tiếng Hy Lạp cổ nó có nghĩa là hình ảnh bị xuyên tạc) từ đó, ông đƣa ra cách thức để nhận thức chân lý và khắc phục đƣợc các ảo tƣởng bằng việc vạch ra cơ chế và bản chất của chúng. Trên thực tế, Bêcơn đã nhận thấy đƣợc khả năng nhận thức của con ngƣời và đã tìm cách khai thác khía cạnh đó, bắt đầu từ việc chỉ ra nguồn gốc và các loại ảo tƣởng. Theo ông các ảo tƣởng có nguồn gốc hoàn toàn khách quan vì chúng có trong bản chất của trí tuệ con ngƣời, một phần xuất hiện trong quá trình lịch sử nhận thức của nhân loại, một phần nảy sinh trong tố chất sinh lý và nhân cách của mỗi ngƣời, đó là những sai lầm trong nhận thức.
Để khắc phục những sai lầm đó, Ph.Bêcơn đƣa ra vấn đề phƣơng pháp. Các phƣơng pháp nhận thức mà Bêcơn đƣa ra thực ra là những phƣơng pháp gắn liền với chủ nghĩa duy kinh nghiệm, chủ nghĩa duy cảm duy vật, nhằm hƣớng tƣ duy và trí tuệ của con ngƣời vào việc khái quát và diễn giải những tƣ liệu do cảm tính đem lại. Với việc đƣa ra những phƣơng pháp nhận thức khoa học có xu hƣớng duy cảm kinh nghiệm ấy, Bêcơn đã tháo cởi xiềng xích của tƣ duy kinh viện và tạo đà cho các nhà triết học sau ông xem xét khả năng nhận thức của con 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời một cách khoa học hơn trong đó có ngƣời đồng hƣơng và ngƣời bạn của ông nhà triết học Tômát Hốpxơ. * Cảm giác với tư cách là khả năng nhận thức trong quan niệm của Hốpxơ Cũng nhƣ Ph.Hốpxơ (Thomas Hobbs) (1588 - 1679) cho rằng “tri thức là sức mạnh” do vậy phải tăng cƣờng phát triển các khoa học, nhất là triết học.
Lý luận triết học phải phục vụ thực tiễn của con ngƣời vì nó giúp cho con ngƣời hiểu biết về các sự vật. Hốpxơ là ngƣời hệ thống và phát triển các quan niệm duy vật của Bêcơn trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó, vấn đề con ngƣời và khả năng nhận thức của con ngƣời đƣợc coi là tâm điểm trong triết học của ông. Xuất phát từ quan niệm duy vật thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới có trƣớc con ngƣời và không phải do chúa trời tạo ra. Hốpxơ đã bênh vực chủ nghĩa duy cảm cho rằng chỉ có vật thể đơn lẻ tồn tại.
Mọi khái niệm nhƣ: “Thực thể”, “vật chất”…đều chỉ là những tên gọi. Ông nói: “Trong thế giới chẳng có gì chung cả, ngoài các tên gọi” [68, tr.282], nên điều không tránh khỏi là ông phải giải thích mọi thực tại và mọi quá trình theo kiểu các vật thể chuyển động. Ở đây, sự chuyển động, theo ông, không chỉ là sự di dời chỗ mà còn là quá trình biến đổi. Các sự vật đơn lẻ trở nên khác, vì bên trong chúng đã có sự biến đổi ít nhiều.
Và sự thay đổi này không chỉ áp dụng trong trạng thái tự nhiên của con ngƣời, mà còn cả trong khả năng tƣ duy của con ngƣời nữa. Trí tuệ con ngƣời hoạt động bằng nhiều cách, từ tri giác, tƣởng tƣợng ghi nhớ đến suy nghĩ. Tất cả những cách hoạt động này của trí khôn cơ bản đều giống nhau vì tất cả đều là những chuyển động trong cơ thể chúng ta. Hốpxơ đặc biệt thấy rõ điều này.
Hốpxơ viết: “Tri giác là khả năng chúng ta cảm giác sự vật, nó là hành vi tinh thần cơ bản và các hành vi khác đều phát xuất từ hành vi gốc này” [Trích theo 53, tr. Toàn thể cấu trúc và quá 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trình của tƣ duy con ngƣời đƣợc giải thích nhƣ là những vật thể chuyển động và những biến thiên trong hoạt động tinh thần đƣợc giải thích bằng cách gắn chỗ cho mỗi loại hành vi này dọc theo một chuỗi nguyên nhân có thể mô tả đƣợc. Nhƣ thế, quá trình tƣ duy bắt đầu khi một vật thể ở ngoài chúng ta chuyển động và tạo ra một chuyển động trong chúng ta nhƣ khi chúng ta thấy một cái cây và việc thấy cái cây đƣợc gọi là tri giác hay cảm giác. Khi chúng ta nhìn thấy cái cây, chúng ta thấy cái mà Hốpxơ gọi là một “huyễn tƣợng” (phantasm).
Một huyễn tƣợng (phantasm) là hình ảnh tạo ra trong đầu óc chúng ta bởi một vật thể bên ngoài. Và hình ảnh này vẫn đƣợc thấy khi đối tƣợng không còn, khi ta nhắm mắt, tuy rằng, chúng ta có thể sẽ mờ nhạt hơn lúc đầu. Hốpxơ gọi sự giữ lại hình ảnh này là trí tƣởng tƣợng. Nhƣ vậy, tƣởng tƣợng chỉ là một sự phân rã của cảm giác mà Hốpxơ gọi là cảm giác đang phân rã.
Sau này, khi chúng ta muốn diễn tả sự phân rã này và nói rằng cảm giác đang mờ nhạt dần, chúng ta gọi là trí nhớ: “Vì vậy tƣởng tƣợng và trí nhớ chỉ là một điều duy nhất, đƣợc gọi bằng các tên khác nhau để xét về khía cạnh khác nhau” [Trích theo 53, tr. Hốpxơ đã dùng một mẫu máy móc để giải thích về tƣ duy nhƣ việc ông giải thích về cảm giác, cho nên, theo ông, tƣ duy chỉ là một dạng khác của cảm giác mà thôi. Các tƣ tƣởng nối tiếp nhau trong tƣ duy của con ngƣời vì trƣớc hết chúng ta đã nối tiếp trong cảm giác, vì những chuyển đổi đã nối tiếp nhau trong cảm giác, cũng sẽ tiếp tục nối tiếp nhau sau cảm giác. Tóm lại, Hốpxơ quan niệm rằng không gì xảy ra trong tƣ duy mà không thể giải thích nhƣ là cảm giác và trí nhớ.
Hơn nữa, Hốpxơ còn cho rằng, khoa học và triết học có thể có đƣợc là vì con ngƣời có khả năng tạo ra các từ và câu. Cho nên nhận thức có hai dạng, một là nhận thức về sự kiện, và hai là nhận thức về hậu quả. Nhận thức sự kiện chỉ là nhớ lại các sự kiện đã qua. Nhận thức hậu quả có tính chất giả 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuyết hay điều kiện, nhƣng vẫn dựa trên kinh nghiệm, vì nó khẳng định rằng nếu A đúng thì B cũng đúng, hay theo ví dụ của Hốpxơ: “Nếu cái hình xem là một hình tròn, thì mọi đƣờng thẳng đi qua tâm nó sẽ chia nó thành hai phần bằng nhau” [Trích theo 53, tr.