CHƯƠNG 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN ·········································· 7 1.3 Khái niệm Đông Á- Khu vực Đông Á ················································ 14 CHƯƠNG 2. CHỦ NGHĨA KHU VỰC Ở ĐÔNG Á ĐẦU THẾ KỈ XXI ·························································································································· 15 2.1 Những nét chính của lịch sử Đông Á trong thế kỉ XXI ······················· 15 2.1 Thời kì cuối XIX- đầu XX··················································· 15 2.2 Thời kì chủ nghĩa quân phiệt Nhật ······································· 18 2.3 Đông Á trong thời kì chiến tranh lạnh·································· 19 2.4 Đông Á cuối thế kỉ XX ························································ 21 2.2 Toàn cầu hóa và khu vực hóa ở Đông Á ············································· 26 2.1 Từ góc độ kinh tế································································· 27 2.2 Nhìn từ góc độ chính trị······················································· 29 CHƯƠNG 3. TƯƠNG LAI CỦA CHỦ NGHĨA KHU VỰC ĐÔNG Á ··· ·························································································································· 31 3.1 Mô hình ASEAN + 3 ·········································································· 37 3.2 Mô hình 3 + ASEAN- Mô hình ASEAN+6 ········································ 45 KẾT LUẬN ···································································································· 53 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ··················································· 55 4 TÓM TẮT CÔNG TRÌNH Ngày nay ảnh hưởng của tiến trình toàn cầu hóa lên cuộc sống con người tăng dần theo từng ngày.
Những thuật ngữ như “thời đại toàn cầu hóa”, “những vấn đề toàn cầu”, “chiến lược toàn cầu”… trở nên vô cùng quen thuộc và được đào sâu, chú trọng phân tích rất nhiều. Bên cạnh xu thế đó, xu thế “khu vực hóa” cũng như “chủ nghĩa khu vực” cũng đóng một vai trò không kém phần quan trọng cùng chi phối tình hình chính trị, kinh tế, xã hội thế giới. Đề tài “Chủ nghĩa khu vực ở Đông Á” sẽ phân tích khái quát, sơ lược sự hình thành, thiết lập và phát triển của xu thế khu vực hóa trên quan điểm của một sinh viên ngành Quan hệ quốc tế thông qua các khái niệm, dẫn chứng, ví dụ cụ thể được phân tích rõ ràng. Đề tài sẽ vạch rõ các mối tương đồng, khác biệt, liên kết giữa chủ nghĩa khu vực hóa đối với tiến trình toàn cầu hóa và chủ nghĩa quốc gia: Liên quan, tác động, kìm hãm… lẫn nhau như thế nào? Khác biệt ra sao? Vài trò của các quốc gia khu vực Đông Á trong những mối quan hệ phức tạp ấy… Tất cả những luận điểm, phân tích, nhận xét sẽ được minh họa bằng các sự kiện, dẫn chứng cụ thể.
Mà khu vực Đông Á được lấy làm trọng tâm, đối tượng cho đề tài nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu đề tài- Đóng góp mới của đề tài: - Quá trình nghiên cứ trong nước: Đề tài bắt đầu được hình thành trên cơ sở khóa học “Chương trình hợp tác nghiên cứu giữa ĐHQG TP.HCM và trường ĐH Osaka Sangyo, Nhật Bản” trong thời gian 6 tháng (từ 4/2006 đến 10/2006) dưới sự hướng dẫn của GS.TS Kanazawa Shigemori, Khoa Môi Trường Nhân Văn, ĐH Osaka Sangyo, Nhật Bản, cùng các chuyến đi tìm hiểu thực tế tại Nhật Bản và Hàn Quốc. 5 Đề tài đã được đánh giá chi tiết và thông qua bởi Hội đồng khoa học Khoa Môi Trường Nhân Văn vào tháng 9/2006. Trên cơ sở của những bước đầu tiên, tác giả đề tài muốn phát triển sâu hơn vấn đề nghiên cứu này dưới góc nhìn một sinh viên ngành Quan hệ quốc tế, trên quan điểm của người Việt Nam.
Cho đến nay nội dung của đề tài vẫn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống ở Việt Nam. Nhiệm vụ của đề tài: - Phác họa bức tranh khu vực Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hóa. - Vai trò của chủ nghĩa khu vực ảnh hưởng đến bối cảnh chính trị của Đông Á. - Bước đầu so sánh chủ nghĩa khu vực Đông Á với khu vực Đông Nam Á thông qua mô hình ASEAN+3.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: Để giài quyết được những yêu cầu trên, trong quá trình nghiên cứu tôi sẽ sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau: 1 Phương pháp lịch sử: Xem xét quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa khu vực tại Đông Á trong những năm đầu thế kỉ XXI. Phương pháp này sẽ giúp tác giả xử lí các tài liệu, thông tin, sự kiện… liên quan đến lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. 2 Phương pháp Logic: Lý giải, hệ thống hóa lý luận các khái niệm về toàn cầu hóa, khu vực hóa. Phương pháp này sẽ làm công trình đạt hiệu quả cao trong quá trình sử dụng khu vực Đông Á đối chiếu, so sánh nhằm lý giải mối quan hệ giữa các khái niệm trên.
3 Phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế: Là phương pháp tổng hợp từ khoa học chính trị, khoa học ngoại giao, luật pháp… Phương pháp này giúp tác giả 6 định hướng và hiểu rõ bản chất của sự vận động chính trị thế giới, Đông Á sẽ tồn tại và phát triển thế nào trong bối cảnh đó. Ý nghĩa: Đề tài sẽ bổ sung và tạo nguồn tư liệu cho hướng nghiên cứ về khu vực Đông Á. Xin chân thành cảm ơn ĐHQG TP.HCM, ĐHKHXH&NV TP. HCM, Bộ môn Quan hệ quốc tế- ĐH Osaka Sangyo, Nhật Bản, Khoa Môi trường nhân văn, Bộ môn Môi trường văn hóa đã hỗ trợ tạo điều kiện cho tác giả thực hiện đề tài này tại Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc.
NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.1 Toàn cầu hóa: Có nhiều quan điểm, trường phái tiếp cận Toàn cầu hóa. Mỗi quan điểm, cách tiếp cận đều có những khái niệm, định nghĩa riêng về vấn đề này. Nhưng hiện nay trên thế giới, người ta thường chú trọng vào hai trường phái sau: 1. Quan điểm của Fukiyama: Chủ nghĩa tư bản sẽ lan tận ra mọi ngóc ngách của thế giới, thương mại hóa toàn bộ các mối quan hệ xã hội 2.
Quan điểm của Poliani: Toàn cầu hóa là một quá trình liên tục, sẽ có sự phản kháng chống đối lại toàn cầu hóa nhưng lịch sử sẽ vẫn tiếp diễn. Gần đây thì trên thế giới nổi lên quan điểm của nhà báo Thomas. Friedman, ông cho rằng toàn cầu hóa là quá trình làm phẳng thế giới, trái đất ngày càng thu hẹp phạm vi, khoảng cách địa lý không còn là trở ngại. Ông vạch rõ ra tiến trình làm phẳng thế giới của con người qua ba kỷ nguyên toàn cầu hóa: - Kỷ nguyên thứ nhất: bắt đầu từ năm 1492, khi mà Columbus mở ra sự thông thương giữa Thế Giới Cũ và Thế Giới Mới đến năm 1800.
Friedman đặt tên nó là Toàn cầu hóa 1. Có thể nói nhân tố quan trọng thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa trong giai đoạn này mang nặng tính cơ bắp, với nhiệm vụ chính đơn thuần là kết nối. Ông gọi đây là quá trình làm cho thế co lại từ kích thước lớn thành kích thước trung bình. - Kỷ nguyên thứ hai: Bắt đầu từ năm 1800 đến năm 2000, thời kỳ này làm thế giới co lại từ kích thước trung bình thành kích thước nhỏ.
Tác nhân chính của quá trình toàn cầu hóa trong giai đoạn này là các công ty xuyên quốc gia. Mục đích là thu hút nguyên liệu, nhân lực, để đi đến mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Giai 8 đoạn này chứng kiến sự ra đời và trưởng thành của nền kinh tế thị trường mà tôi sẽ phân tích cụ thể hơn trong bài nghiên cứu này từ quan điểm riêng của mình. - Kỷ nguyên thứ ba: Đây là quá trình thu nhỏ thế giới từ kích cỡ nhỏ xuống còn siêu nhỏ, đồng thời “san phẳng” thế giới, công bằng hóa, đa phương hóa các vấn đề nóng bỏng trên thế giới ngày nay.
Trong quá trình này lần lượt xuất hiện những nhân vật mới được trao quyền tham gia vận hành tiến trình toàn cầu hóa. Và tiến trình này thể hiện rất rõ trong tựa đề mà Friedman đặt cho cuốn sách của mình : The World Is Flat (Thế giới là phẳng ). Và còn rất nhiều quan điểm khác trong cách tiếp cận toàn cầu hóa. Do đó, để đưa ra một định nghĩa chính xác không dễ chút nào.
Trong bài nghiên cứu này, chúng ta sẽ tiếp cận Toàn cầu hóa nhằm nghiên cứu, phân tích Chủ nghĩa khu vực như một mô hình kìm hãm Toàn cầu hóa. Poliani cũng từng cho rằng có A thì sẽ có B phản kháng lại. Toàn cầu hóa cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Ngày nay, mỗi khi WTO hay một tổ chức toàn cầu nào tổ chức hội nghị, hội thảo… thì luôn xuất hiện rất đông đội ngũ những người chống lại Toàn cầu hóa.
Nhưng ở đây, chúng ta sẽ không chú trọng vào sự phản kháng như thế. Muốn kìm hãm Toàn cầu hóa, hay nói đúng hơn lái nó đi theo hướng có lợi, hạn chế những sai sót, tiêu cực cần phải có một mô hình, một cơ chế, một sức mạnh tập thể đủ mạnh để kìm hãm nó. Chung quy mà nói, Toàn cầu hóa ngày ngày đang trở thành tiến trình tất yếu, không tránh khỏi. Nhưng bên cạnh những lợi ích nó mang lại thì quá nhiều những bất công, tiêu cực, mặt trái kèm theo.
Nhưng trước tiên chúng ta cần làm rõ hơn những vấn đề sau. Vậy toàn cầu hóa là gì? Có rất nhiều sự nhập nhằng về ngữ nghĩa trong vấn đề này. Vì vậy toàn cầu hóa có thể được xem như là một cái gì đó mơ hồ, một phép chơi chữ, một hiện tượng kì lạ, một tư tưởng, một hiện thực, một điều hợp lý cần phải xảy ra. Toàn cầu hóa trở thành đề tài hấp dẫn từ thập niên 1990.
Thật ra, toàn cầu hóa là một cụm từ tóm gọn lại những thay đổi trong: kinh tế, tư tưởng, kỹ thuật, và văn hóa. Những thay đổi trong kinh tế bao gồm cả quá trình quốc tế hóa 9 quy trình sản xuất, sự tăng cường lưu chuyển tiền tệ, tài chính và sự hình thành những tập đoàn đa quốc gia, sự phụ thuộc lẫn nhau trong quan hệ kinh tế ngày càng mật thiết, gia tăng. Mức độ toàn cầu hóa kinh tế còn được thể hiện cả trong việc tái cơ cấu không gian sản xuất, sự thâm nhập giữa các ngành công nghiệp đã vượt qua giới hạn biên giới, thị trường tài chính được mở rộng, công cuộc quảng bá sản phẩm được tiến hành trên phạm vi xuyên quốc gia, cùng với nó là một số lượng lớn dân nhập cư trên toàn thế giới giữa các nước. Việc thay đổi tư tưởng cũng diễn ra trong lĩnh vực đầu tư và tự do hóa thương mại, bãi bỏ những điều lệ, quy định, tiến hành tư nhân hóa, đường lối chính trị dân chủ cũng được ưa chuộng hơn.
Những thay đổi về kỹ thuật bao gồm công nghệ thông tin và phương tiện truyền thông đại chúng đã rút ngắn lại khoảng cách địa lý, thay đổi tính chất hàng hóa thành dịch vụ. Cuối cùng, những thay đổi văn hóa có xu hướng làm hòa hợp các đặc trưng, tiêu chuẩn của nền văn hóa toàn cầu vượt lên cả phạm vi quốc gia. Toàn cầu hóa có thể được xác định như hiện tượng kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa được giao hòa ở mức độ mãnh liệt.