CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm cơ bản về thực hiện chính sách việc làm cho lao động nông thôn 1. Việc làm Việc làm là vấn đề hết sức quan trọng nhằm đảm bảo cuộc sống và sự phát triển của mỗi con người nói riêng và sự phát triển của xã hội nói chung. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển của xã hội thì nhà nước, các doanh nghiệp và toàn xã hội đều phải có trách nhiệm trong việc thực hiện các giải pháp nhằm GQVL, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống.
Việc làm là một phạm trù lịch sử, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong các giai đoạn phát triển khác nhau. Việc mở rộng hay thu hẹp việc làm, phát huy hay kìm hãm năng lực tạo việc làm phụ thuộc vào yếu tố kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia, địa phương hay doanh nghiệp. Khái niệm việc làm được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũng được nhìn nhận một cách khoa học, đầy đủ và đúng đắn hơn.
Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật”. Tại Việt Nam, quan niệm về việc làm được quy định rõ tại Điều 9, Chương II, Bộ Luật lao động sửa đổi bổ sung năm 2012 [20], cụ thể: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Từ những quan niệm trên, khái niệm việc làm có thể được hiểu một cách đầy đủ như sau: “Việc làm là hoạt động lao động của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc cho toàn xã hội, các hoạt động này không bị pháp luật cấm”. Giải quyết việc làm Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam.
Tại Việt Nam, trách nhiệm GQVL được quy định cụ thể tại Điều 9, Chương II, Bộ Luật lao động sửa đổi bổ sung năm 2012 [20]: “Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”. GQVL cho người lao động trong sự phát triển của thị trường lao động là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiến kịp khu vực và thế giới. GQVL là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Chỉ khi nào trên thị trường người lao động và người sử dụng lao động gặp gỡ và tiến hành trao đổi thì khi đó việc làm được hình thành.
GQVL phải được xem xét ở cả phía người lao động, người sử dụng lao động và vai trò của các cơ quan QLNN. GQVL nhằm khai thác triệt để tiềm năng của một con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả. Chính vì vậy, GQVL phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Vì vậy, có thể hiểu giải quyết việc làm là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế, xã hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến người lao động có thể có việc làm.
Nông thôn và lao động nông thôn - Nông thôn: được hiểu là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã. Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất mà ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam. Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giải thích thì: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy 10 Luan van ban nhân dân xã". - Lao động: Theo C.Mác: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”.
Theo đó, lao động trước hết là một hành động diễn ra giữa con người với giới tự nhiên, trong lao động con người đã vận dụng trí lực và thể lực cùng với công cụ tác động vào giới tự nhiên tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, đời sống con người, lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó là hoạt động rất cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người. Con người không thể sống khi không có lao động. Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động. Sức lao động là năng lực của con người, nó bao gồm cả thể lực và trí lực, nó là yếu tố tích cực đóng vai trò trung tâm trong suốt quá trình lao động, là yếu tố khởi đầu, quyết định trong quá trình sản xuất, sản phẩm hàng hoá có thể được ra đời hay không thì nó phải phụ thuộc vào quá trình sử dụng sức lao động.
Khi xã hội ngày càng phát triển, khái niệm lao động đã được mở rộng hơn nhiều so với bản chất ban đầu. Lao động là hoạt động có mục đích, có ích cho con người tác động lên giới tự nhiên, xã hội nhằm mang lại của cải vật chất cho bản thân và cho xã hội. Lao động là điều kiện không thể thiếu được của đời sống con người, làm cho con người ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn. Lao động làm cho con người mang tính sáng tạo ngày càng cao.
Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất, còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động. Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động. Mức tiền công chính là mức giá của lao động vì đó là thước đo giá trị của phát triển sản xuất trong xã hội. Như vậy, lao động là nguồn gốc và động lực phát triển xã hội, không có lao động sẽ không thể có sự tồn tại của đời sống cá nhân cũng như xã hội loài người nói chung.
- Lao động nông thôn: là những người thuộc lực lượng lao động, tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi, lâm 11 Luan van nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn. Đây là lực lượng chủ yếu sản xuất lương thực, thực phẩm cho xã hội và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Lao động nông thôn ở nước ta có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, LĐNT nước ta chủ yếu tập trung trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp với năng suất lao động thấp, phương thức sản xuất còn nhiều lạc hậu, hiệu quả sản xuất không cao. Mặt khác, LĐNT sống và làm việc rải rác trên địa bàn rộng.
Do đó, việc tổ chức hợp tác lao động và việc đào tạo, bồi dưỡng, cung cấp thông tin cho LĐNT là rất khó khăn. Thứ hai, LĐNT ở nước ta đa số có trình độ văn hoá và chuyên môn thấp hơn so với khu vực thành thị, tỷ lệ LĐNT đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp. Theo tổng kết đánh giá 10 năm thực hiện xây dựng nông thôn mới của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, đến năm 2018 vẫn còn đến 87,18% LĐNT không được đào tạo; chỉ có 2,53% lao động có trình độ sơ cấp và 1,76% trình độ trung cấp (trình độ phù hợp nhất với LĐNT). Đáng chú ý là lao động có trình độ trung cấp giảm với tốc độ rất cao (12,3%/năm), lao động có trình độ cao đẳng chỉ chiếm 4,36% và lao động trình độ đại học chỉ chiếm 4,03%.
Thứ ba, LĐNT chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên lao động theo truyền thống và thói quen là chính. Điều đó làm cho LĐNT có tính bảo thủ nhất định, tạo ra sự khó khăn cho việc thay đổi phương hướng sản xuất và thực hiện phân công lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn. Thứ tư, LĐNT ở Việt Nam mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là các vùng nông thôn thuần nông. Do vậy, việc sử dụng lao động trong nông thôn kém hiệu quả, hiện tượng thiếu việc làm là phổ biến.
Muốn GQVL và tăng thu nhập cho LĐNT thì phải bằng mọi biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa tính thời vụ bằng cách phát triển đa dạng ngành nghề trong nông thôn, thâm canh tăng vụ, xây dựng cơ cấu cây trồng, con vật nuôi một cách hợp lý. Thứ năm, LĐNT ít có khả năng tiếp cận và tham gia thị trường kém, thiếu khả 12 Luan van năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường, khả năng hạch toán hạn chế. Do đó, khả năng giao lưu và phát triển sản xuất hàng hoá cũng có nhiều hạn chế. Tập quán sản xuất của lao động nước ta nhìn chung vẫn nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu bị trói buộc trong khuôn khổ làng xã.
Với những đặc điểm như trên, LĐNT chủ yếu thuộc bộ phận dân số không có việc làm thường xuyên, hay còn gọi là thiếu việc làm hoặc bán thất nghiệp. Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn còn do lao động tăng nhanh, do diện tích ruộng đất trên một lao động ngày càng giảm. Tình trạng đó không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của chính LĐNT mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định, phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, gây lãng phí một nguồn lao động lớn ở nước ta.