CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ 1.1 Tổng quan về tỉ giá 1.1 Khái niệm về tỉ giá Theo một cách hiểu được thừa nhận rộng rãi ngày nay theo cơ chế kinh tế thị trường, tỷ giá được định nghĩa như sau: “Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác”. Theo khái niệm này, tỷ giá được hiểu hoàn chỉnh hơn, vì nó khắc phục được một số hạn chế như: Hạn chế về quy định là đồng tiền của một quốc gia – bởi hiện nay ngoài đồng tiền của các quốc gia còn có các đồng tiền chung như EUR, SDR,… ; hạn chế về gắn tỷ giá thông qua hàng hóa (đặc trưng là vàng, bạc…) do hiện nay IMF cấm các quốc gia thành viên không được gắn đồng tiền quốc gia với vàng bạc nên trên thực tế không còn quốc gia nào gắn tiền tệ của mình với vàng và bạc nữa ; hạn chế về tương quan sức mua giữa các đồng tiền. Trong cơ chế kinh tế thị trường, tỷ giá là giá cả được xác định theo quy luật quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối. Tỷ giá thường xuyên biến đổi để phản ánh những thay đổi trong các biến số xác định như lạm phát, lãi suất, tăng trưởng kinh tế,…Để thuận tiện cho việc so sánh , chúng ta quy ước trong bài rằng : khi tỷ giá giữa đồng ngoại tệ và đồng nội tệ tăng lên , có nghĩa là một đồng tiền ngoại tệ sẽ đổi được nhiều đồng tiền của nội tệ, điều đó hàm ý rằng đồng ngoại tệ đang lên giá, nội tệ giảm giá và ngược lại.
Ví dụ , tỷ giá Đô la Mỹ và Việt Nam đồng ngày 12/8/2009 là 20200 VND/USD. Ngày 13/8/2009 , tỉ giá đó là 20213 VND/USD , có nghĩa là giá trị 1 đồng USD đã tăng hơn 13 đồng so với giá trị của Việt Nam Đồng ngày 12/8/2009 , hay nói cách khác đồng USD đang lên giá , còn VND đang giảm giá ( và ngược lại ) .2 Phân loại tỷ giá Dựa theo các tiêu chí khác nhau mà người ta chia tỷ giá hối đoái thành nhiều loại khác nhau. Sau đây là một số tiêu chí phân loại tỷ giá hối đoái thường gặp: 1.1 Căn cứ vào chính sách tỷ giá - Tỷ giá chính thức: - Official Rate (ở Việt Nam ngày nay là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng): Là tỷ giá do NHTW công bố. Nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ.
Tỷ giá chính thức được áp 5 dụng để tính thuế xuất nhập khẩu và một số hoạt động khác liên quan đến tỷ giá chính thức. Ngoài ra, ở Việt Nam tỷ giá chính thức còn là cơ sở để các NHTM xác định tỷ giá kinh doanh trong biên độ cho phép. - Tỷ giá chợ đen: là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng, do quan hệ cung cầu trên thị trường chợ đen quyết định. - Tỷ giá cố định: Là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ dao động hạn hẹp.
Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì tỷ giá cố định, buộc NHTW phải thường xuyên can thiệp, do đó làm cho dự trữ ngoại hối quốc gia thay đổi. - Tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu trên thị trường, NHTW không hề can thiệp. - Tỷ giá thả nổi có điều tiết: Là tỷ giá được thả nổi, nhưng NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế.2 Căn cứ theo nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ -Tỷ giá giao ngay (Spot rate): Là tỷ giá được thỏa thuận vào ngày hôm nay nhưng giao dịch ngoại tệ sẽ xảy ra trong vòng 2 ngày sau đó (T+2). -Tỷ giá kỳ hạn (Forward rate): Là tỷ giá được thỏa thuận vào ngày hôm nay nhưng áp dụng cho ngày giao dịch ngoại tệ tương lai sau ngày thỏa thuận.
Theo giao dịch này, hai bên mua bán sẽ cam kết mua bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức tỷ giá xác định và việc thanh toán sẽ diễn ra trong tương lai. Ngoài ra, còn có các tỷ giá khác như: Tỷ giá mua vào (Bid rate), tỷ giá bán ra (Ask rate), tỷ giá tiền mặt (Bank note rate), tỷ giá chuyển khoản ( Transfer rate), tỷ giá mở cửa (Opening rate), tỷ giá đóng cửa (Closing rate), tỷ giá chéo (Cross rate).3 Căn cứ theo phương pháp xác định - Tỷ giá danh nghĩa đa phương ( Norminal effective exchange rate - NEER) là chỉ số tỷ giá trung bình của một đồng tiền so với các đồng tiền còn lại. Việc xác định NEER dựa trên tỷ trọng thương mại một nước với nhóm các nước có sử dụng đồng tiền tham gia trong rổ tiền tệ. Vì vậy, về tổng thể NEER được sử dụng để xem xét một đồng tiền là mạnh hay yếu.
6 - Tỷ giá thực đa phương ( Real effective exchange rate – REER) bằng tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER) đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát trong nước với tất cả các nước còn lại, do đó, nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại. REER là thước đo tổng hợp vị thế cạnh tranh thương mại của một nước so với tất cả các nước bạn hàng còn lại. Do vậy nên các nước hiện nay đều tính toán và công bố tỷ số này.3 Tác động của tỷ giá đến nền kinh tế Tỷ giá hối đoái giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế của một quốc gia cũng như các quan hệ quốc tế thông qua việc phản ánh tương quan các giá trị đồng tiền của các nước khác nhau. Nó có thể làm tăng, giảm, mở rộng hay thu hẹp các hoạt động kinh tế đối ngoại, trước hết là các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ.
Qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế trong nước như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tính cân bằng của cán cân thanh toán, mức độ ổn định của lạm phát… 1.1 Tác động đến lạm phát Một đồng nội tệ mạnh có thể khuyến khích người tiêu dùng và các công ty của nước đó mua hàng hóa từ các nước khác. Trường hợp này làm tăng tính cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài và buộc các nhà sản xuất nội địa không được tăng giá hàng. Vì vậy, một đồng nội tệ yếu tạo áp lực tăng lạm phát trong nước và tỷ lệ lạm phát cao lại tạo áp lực giảm giá trị đồng nội tệ. Một đồng nội tệ mạnh tạo áp lực giảm lạm phát do giá nguyên vật liệu nhập khẩu giảm đi, buộc các doanh nghiệp trong nước hạ giá bán sản phẩm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, từ đó lại tạo áp lực tăng giá đồng nội tệ.2 Tác động tới cán cân thương mại quốc tế Diễn biến tăng giảm của tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất nhập khẩu thông qua giá cả.
Khi tỷ giá hối đoái thay đổi kéo theo sự thay đổi của giá hàng xuất nhập khẩu và khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị trường quốc tế. Chính vì thế, tỷ giá là một công cụ vĩ mô chủ yếu để điều tiết cán cân thương mại quốc tế theo một mục tiêu đã định trước của một quốc gia. Đối với hoạt động xuất khẩu, trong trường hợp các điều kiện khác giữ nguyên, khi tỷ giá hối đoái 7 tăng, có nghĩa là đồng nội tệ mất giá, thì giá hàng hóa dịch vụ của nước đó sẽ giảm đi tương đối so với nước ngoài. Dẫn đến cầu về xuất khẩu hàng hóa dịch vụ nước đó sẽ tăng, cầu về hàng hóa nước ngoài sẽ giảm và tạo sự thặng dư cho cán cân thương mại.
Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm, tức là đồng nội tệ lên giá so với ngoại tệ, thì giá hàng hóa nội địa sẽ đắt hơn tương đối so với nước ngoài. Điều này sẽ làm hạn chế xuất khẩu, tăng nhập khẩu mở rộng cạnh tranh với hàng hóa sản xuất trong nước. Tình hình này có xu hướng làm cho cán cân thương mại bị thiếu hụt. Tuy nhiên, đây là cơ hội cho các nhà nhập khẩu, đặc biệt là nhập khẩu nguyên liệu, máy móc để phục vụ cho nhu cầu sản xuất trong nước.3 Tác động đến hoạt động đầu tư và tín dụng quốc tế Đối với đầu tư quốc tế: Đối với hoạt động đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI): Tỷ giá hối đoái tác động tới giá trị phần vốn mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư hoặc góp vốn kinh doanh tính theo đồng tiền của nước ngoài đầu tư.
Bên cạnh đó, tỷ giá còn tác động tới khoản lợi nhuận chuyển ra nước ngoài của nhà đầu tư và quá trình sản xuất kinh doanh của họ. Vì vậy, những biến động của tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư từ phía đối tác nước ngoài. Đối với đầu tư gián tiếp: Đây là loại hình đầu tư vào lĩnh vực mua bán, kinh doanh các loại chứng khoán. Khi tỷ giá hối đoái thay đổi nó sẽ tác động lên giá cả của các loại chứng khoán trên thị trường.
Chẳng hạn, khi tỷ giá hối đoái tăng lên, các nhà đầu tư sẽ đổ dồn vào mua các loại chứng khoán niêm yết bằng đồng tiền lên giá đó để những biến động của tỷ giá ít ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Ngược lại, khi tỷ giá của một đồng tiền giảm, hay đồng tiền đó mất giá, các chủ đầu tư sẽ bán tháo các chứng khoán niêm yết bằng đồng tiền xuống giá để chuyển sang các loại hình đầu tư khác. Nếu điều này xảy ra, nó sẽ tác động tiêu cực không nhỏ đến nền kinh tế, đặc biệt là với các nước có thị trường chứng khoán phát triển. Đối với tín dụng quốc tế Đối với người nước ngoài cho vay bằng ngoại tệ, tỷ giá hối đoái giảm sẽ làm giảm giá trị khoản tiền cho vay và khoản lãi thu về so với mức họ được hưởng nếu tỷ giá không biến đổi.
Ngược lại, khi tỷ giá tăng, ngươi cho vay sẽ thu được lợi từ gia tăng giá trị khoản vốn cho vay và tiền lãi thu được. Đối với người đi vay, khi tỷ giá 8 tăng lên thì giá trị khoản vay và lãi phải trả tính theo đồng nội tệ tăng lên tương đương. Trong trường hợp này, họ thường có xu hướng muốn chuyển các tài khoản ở ngân hàng của họ sang tài khoản ngoại tệ lên giá để bảo toàn lượng tiền có được trước những biến động của tỷ giá. Nếu điều này xảy ra thì cầu ngoại tệ tiếp tục tăng lên đẩy tỷ giá tiếp tục lên cao.