CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÁCH SẠN VÀ CHÍNH SÁCH TRUYỀN THÔNG CỔ ĐỘNG 1. Cơ sở lý luận về khách sạn và kinh doanh khách sạn 1.Khái niệm khách sạn Theo thông tư số 01/202/TT – TCDL ngày 27/04/2001 của Tổng cục du lịch về hướng dẫn và thực hiện nghị định số 39/2000/NĐ – CP của chính phủ về cơ sở lưu trú dịch vụ nêu rõ: “Khách sạn là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy mô từ 10 buồng trở lên, đảm bảo chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch.” Theo nhà nghiên cứu về du lịch và khách sạn Morcel Gotie thì khách sạn được định nghĩa như sau: “Khách sạn là nơi lưu trú tạm thời của du khách cùng với các buồng ngủ, còn có nhà hàng với nhiều chủng lợi khác nhau .Khái niệm về kinh doanh khách sạn và đặc điểm kinh doanh của khách sạn 4 a. Khái niệm về kinh doanh khách sạn Ngày 29/4/1995 quy chế quản lý lữ hành của Tổng cục du lịch đã công nhận thuật ngữ kinh doanh khách sạn và nó được hiểu là “làm nhiệm vụ tổ chức việc đón tiếp, phục vụ việc lưu trú ăn uống, vui chơi giải trí, bán hàng cho khách du lịch”. Tuy nhiên, các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch thường sử dụng 2 khái niệm: kinh doanh khách sạn theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, kinh doanh khách sạn là hoạt động cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi và ăn uống cho khách. Theo nghĩa hẹp, kinh doanh khách sạn chỉ đảm bảo việc phục vụ nhu cầu ngủ nghỉ cho khách.Ngoài hai nhu cầu chính ăn và ngủ, thì khách đến khách sạn còn có nhu cầu về hội họp, chữa bệnh, vui chơi giải trí, làm đẹp,…Và để đáp ứng những nhu cầu đó thì trong kinh doanh khách sạn đã có thêm dịch vụ giải trí, thể thao, y tế, chăm sóc sắc đẹp, dịch vụ giặt là, dịch vụ điện thoại, dịch vụ thanh toán, dịch vụ vận chuyển,… Ngoài ra theo Giáo trình Quản trị kinh doanh khách sạn thì kinh doanh khách sạn còn được định nghĩa là: “Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống, và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn, nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích kinh doanh có lãi” Bên cạnh đó kinh doanh khách sạn còn được định nghĩa là: “Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích đem lại lợi nhuận. Đặc điểm kinh doanh khách sạn Theo TS Nguyễn Văn Mạnh trong cuốn Giáo trình Quản Trị Kinh Doanh Khách sạn, ông cho rằng kinh doanh khách sạn gồm có 4 đặc điểm: 5 Kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên du lịch tại các địa điểm du lịch. Kinh doanh khách sạn chỉ được tiến hành thành công ở những nơi có tài nguyên du lịch bởi lẽ tài nguyên du lịch là yếu tố thúc đẩy, thôi thúc con người đi du lịch.
Giá trị và sự hấp dẫn của tài nguyên du lịch có tác dụng quyết định thứ hạng của khách sạn. Chính vì vậy, khi đầu tư kinh doanh vào khách sạn đòi hỏi phải nghiên cứu kĩ các thông số của tài nguyên du lịch cũng như những nhóm khách hàng mục tiêu và khách hàng tiềm năng bị hấp dẫn tới điểm du lịch mà xác định các chỉ số kỹ thuật của công trình khách sạn khi đầu tư xây dựng và thiết kế. Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng vốn đầu tư lớn. Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân do yêu cầu về tính chất lượng cao của sản phẩm khách sạn, đòi hỏi các thành phần của cơ sở vật chất kỹ thuật của khách sạn cũng phải có chất lượng cao.
Tức là chất lượng của cơ sở vật chất kỹ thuật của khách sạn tăng lên cùng với sự tăng lên của thứ hạng khách sạn. Sự sang trọng của trang thiết bị được lắp đặt bên trong khách sạn chính là nguyên nhân đẩy chi phí đầu tư ban đầu của công trình khách sạn lên cao. Đặc điểm này còn xuất phát từ một số nguyên nhân khác như: chi phí ban đầu cho cơ sở hạ tầng của khách sạn cao, chi phí đất đai cho công trình khách sạn rất lớn. Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng lao động trực tiếp tương đối lớn.
Sản phẩm của khách sạn chủ yếu mang tính phục vụ và sự phục vụ này không thể cơ giới hóa được, mà chỉ được phục vụ bởi những nhân viên trong khách sạn. Mặt khác thời gian lao động lại phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách, thường kéo dài 24/24 mỗi ngày. Do đó đòi hỏi khách sạn phải luôn có một lực lượng lao động đủ lớn để sẵn sàng phục vụ khi khách yêu cầu. Kinh doanh khách sạn mang tính quy luật.
6 Kinh doanh khách sạn chịu chi phối bởi một số nhân tố, mà chúng lại hoạt động theo những quy luật như: quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế - xã hội, quy luật tâm lý con người, …Dù chịu sự chi phối của bất kỳ quy luật nào thì nó cũng gây ra những tác động tiêu cực và tích cực đối với kinh doanh khách sạn. Vấn đề đặt ra cho khách sạn là phải nghiên cứu kỹ các quy luật và sự tác động của chúng đến khách sạn để từ đó chủ động tìm kiếm các biện pháp hữu hiệu để khắc phục những tác động bất lợi của chúng và phát huy những tác động có lợi. Ý nghĩa của hoạt động kinh doanh khách sạn. Đối với kinh tế: Kinh doanh khách sạn là một trong những hoạt động chính của ngành du lịch.
Việc kinh doanh khách sạn mang lại ý nghĩa to lớn đến nền kinh tế. Đầu tiên, khi tiêu dùng hàng hóa dịch vụ của khách sạn tại điểm du lịch, khách du lịch đã góp phần làm tăng GDP cho các vùng này, phân phối lại thu nhập cá nhân từ vùng này sang vùng khác của một quốc gia hay từ quốc gia này sang quốc gia khác. Bên cạnh đó, kinh doanh khách sạn phát triển góp phần tăng cường thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dân. Do đầu tư vào kinh khách sạn đem lại hiệu quả cao nên khi có chính sách mở cửa của Đảng và nhà nước đến nay đã thu hút một lượng lớn vốn đầu tư ở trong và ngoài nước.
Giải quyết được vấn đề công ăn, việc làm: ngành khách sạn là ngành cần rất nhiều lao động để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Đặc biệt dân số của Việt Nam chúng ta là dân số vàng, có rất nhiều sinh viên đại học mới ra trường thất nghiệp, họ sẵn sàng đáp ứng những tiêu chí mà nhà tuyển dụng của khách sạn đưa ra. Đối với xã hội: 7 Thông qua việc đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi tích cực trong thời gian đi du lịch của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên, kinh doanh khách sạn góp phần giữ gìn và phục hồi khả năng lao động và sức sản xuất của người lao động.Đồng thời thỏa mãn nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi của số đông người dân, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Tăng cường sự hiểu biết về văn hóa và tri thức cho người dân: khách sạn mở ra để phục vụ những du khách du lịch trong và ngoài nước đến đây để được nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, tìm hiểu về nền văn hóa giữa các vùng, các nước với nhau.
Tăng cường sự hiểu biết, củng cố hòa bình: khách sạn sẽ có những phòng hội nghị để cho các nước về đây họp và bàn luận những vấn đề liên quan đến kinh tế, xã hội, chính trị với nhau. Ngoài ra khách sạn còn là nơi để các nước giải quyết những vấn đề về hòa bình dân tộc. Nội dung cơ bản của nguồn khách 1.Khái niệm khách du lịch Có nhiều cách hiểu khác nhau về định nghĩa khách du lịch. Dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau thì sẽ có một định nghĩa khác nhau về khách du lịch.
Vào đầu thế kỷ XX, nhà kinh tế học người Áo, Josef Stander định nghĩa rằng: “Khách du lịch là những hành khách đi lại, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế.” Căn cứ theo Khoản 2 Điều 3 Luật Du Lịch 2017 có quy định về khái niệm khách du lịch như sau: 8 “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến.Phân loại khách du lịch a. Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ - Khách du lịch quốc tế: là những người rời khỏi quốc gia cư trú thường xuyên của mình để đến viếng thăm một quốc gia khác ít nhất là 24h, nhằm tiến hành các hoạt động tham quan, giải trí,… ngoại trừ các hoạt động mang lại thu nhập cho cá nhân. - Khách du lịch nội địa: là những người đang sống trong một quốc gia (không kể quốc tịch nào) đi đến một nơi khác trong quốc gia đó ít nhất 24h và không quá một năm nhằm mục đích nghỉ ngơi, thăm thân, hội họp,… ngoại trừ làm việc lĩnh lương. Căn cứ vào mục đích chuyến đi - Khách du lịch thuần túy: là những du khách đi du lịch nhằm thỏa mãn những nhu cầu bản thân như nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí, mua sắm, chữa bệnh, thể thao, văn hóa.
Khách chủ yếu lưu trú tại các khách sạn ở gần nơi có khu du lịch, điểm du lịch có tài nguyên du lịch phong phú đáp ứng nhu cầu của khách. - Khách du lịch công vụ: những du khách là đại biểu của các buổi hội nghị, hội thảo, hội chợ,…các chuyến đi tìm cơ hội kinh doanh, tìm hiểu thị trường, nghiên cứu dự án, ký kết hợp đồng. Mục đích chính của loại hình dịch vụ du lịch này là nhằm thực hiện nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó. Với đặc điểm về loại hình du lịch công vụ nên phần lớn các du khách sẽ lưu trú tại các khách sạn nằm gần trung tâm thành phố để dễ dàng cho việc di chuyển.