đặt vấn đề như vậy, Liběna Tetřevová cho rằng tái cơ cấu có nghĩa là doanh nghiệp thực hiện việc sắp xếp, đổi mới các chức năng hoạt động của nó. Hay tái cơ cấu thể hiện “doanh nghiệp thay đổi toàn diện theo định hướng 11 z và hệ thống của một bộ phận tổ chức quản lý (doanh nghiệp, nhà máy, bộ phận doanh nghiệp tự trị)”. Như vậy, tái cơ cấu chính là quá trình thực hiện một sự thay đổi lớn trong cấu trúc tổ chức và thường liên quan đến cắt giảm bộ máy quản lý và có thể thay đổi thành phần của tổ chức thông qua sáp nhập hoặc mua lại. Khi bàn về khái niệm tái cơ cấu, theo tài liệu “Tái cơ cấu doanh nghiệp và sự phá sản doanh nghiệp” (2001) của Viện Company Secretaries - Ấn Độ, thì tái cơ cấu doanh nghiệp đơn giản là quá trình toàn diện mà ở đó công ty củng cố hoạt động kinh doanh và vị trí của mình để đạt được mục tiêu ngắn và dài hạn.
Tái cơ cấu là một quá trình toàn diện bằng cách các doanh nghiệp tăng cường cách thức quản lý doanh nghiệp và đẩy mạnh thực hiện mục tiêu trong dài hạn và ngắn hạn - điều phối, thúc đẩy, tiếp tục tồn tại như một thực thể thành công và đầy tính cạnh tranh. Trên góc độ cụ thể hơn, khi bàn về khái niệm tái cơ cấu doanh nghiệp, trong nghiên cứu “Corporate Restructuring in Korea and its Application to Japan” [53], tác giả Hyoung-Tae Kim cho rằng tái cơ cấu doanh nghiệp có nghĩa là hàng loạt các quá trình tái cơ cấu tài sản, tài chính và quản trị doanh nghiệp, giúp công ty tồn tại và phát triển. Tái cơ cấu có thể diễn ra với một công ty đang gặp khó khăn theo nghĩa hẹp hoặc một công ty kém hiệu quả theo nghĩa rộng hơn. Cũng liên quan đến khái niệm về tái cơ cấu, trong nghiên cứu “Corporate Restructuring Dynamics: A case-study analysis” [50], tác giả Andreas Kemper & Florian Khuen đã chỉ rõ tái cơ cấu doanh nghiệp là một hiện tượng phức tạp và cần thiết.
Mỗi doanh nghiệp có thể đưa ra những chiến lược để từ đó lựa chọn đa dạng hóa hay tập trung vào những ngành công nghiệp chủ chốt. Đa dạng hóa đem đến sự mở rộng cho hoạt động của doanh 12 z nghiệp, tập trung mạnh vào những hoạt động tiêu biểu. Dựa trên quan điểm đó thì tái cơ cấu là việc làm giảm sự đa dạng hóa. Tái cơ cấu bao gồm nhiều hoạt động như tái cơ cấu vốn đầu tư, tài chính và tổ chức.
Theo tác giả Đỗ Tiến Long trong bài viết “Tái cơ cấu doanh nghiệp ở Việt Nam” [15], tái cơ cấu là quá trình tổ chức nâng cao hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh và thích ứng với bối cảnh mới, đòi hỏi những thay đổi trong cơ chế quản lý và cơ cấu tổ chức. Cùng quan điểm với tác giả Đỗ Tiến Long, tác giả Đỗ Thị Phi Hoài cho rằng, khác với “đổi mới” quản lý doanh nghiệp, tái cơ cấu doanh nghiệp là sự thay đổi có phạm vi và tính chất sâu rộng hơn. Trong đó, khác biệt quan trọng là nếu đổi mới mang ý nghĩa chủ quan thì tái cơ cấu doanh nghiệp lại mang ý nghĩa khách quan của quá trình hoàn thiện doanh nghiệp với mục đích tăng cường hiệu quả kinh tế - xã hội, thích ứng với sự thay đổi của kinh tế toàn cầu. Còn theo tác giả Vũ Nhữ Thăng, trong bài “Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước: nhìn từ kinh nghiệm quốc tế” [30], tái cơ cấu DNNN là quá trình tổ chức, sắp xếp, điều chỉnh lại; cải tiến mô hình, cơ chế hoạt động và bố trí lại nguồn nhân lực.
Kết quả của tái cơ cấu tùy phạm vi, mức độ và mục tiêu đề ra sẽ có tác động đến doanh nghiệp, ngành nghề và tác động đến toàn bộ nền kinh tế, xã hội. Yêu cầu về tái cơ cấu DNNN ở các nước thường khác nhau và phụ thuộc vào thời điểm, bối cảnh kinh tế, chính trị - xã hội ở mỗi quốc gia. Tác giả Phạm Thanh Sơn trong bài “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam” [25], thì cho rằng, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm tái cơ cấu, tuy nhiên, tái cơ cấu doanh nghiệp, về bản chất, chính là sự hoán đổi về sở hữu doanh nghiệp, thay đổi chiến lược kinh doanh, làm mới mình cho phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Vì vậy, tái cơ cấu doanh nghiệp không chỉ 13 z giới hạn ở những doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng khó khăn, mất thanh khoản mà đôi khi chính những công ty đang “ăn nên làm ra” cũng tiến hành tái cơ cấu để phát triển và khẳng định thương hiệu của riêng mình.
Thông qua phân tích về tình hình của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay, tác giả đã phân định tái cơ cấu doanh nghiệp thành các nội dung cụ thể như sau: Tái cấu trúc về sở hữu doanh nghiệp; Tái cấu trúc hệ thống quản lý doanh nghiệp; Tái cấu trúc về tài chính; Tái cấu trúc về nhân sự, lao động; Tái cấu trúc hệ thống sản xuất, kinh doanh; Tái cấu trúc hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm; Tái cấu trúc chiến lược kinh doanh và đầu tư. Đối với một nội dung cụ thể, liên quan đến cấu trúc vốn và tái cơ cấu vốn trong doanh nghiệp, Black và Scholes trình bày trong mô hình định giá quyền chọn (1973) và các ứng dụng của mô hình này, trong đó, khẳng định các lý thuyết về cấu trúc vốn có độ sai lệch cao. Chính điều này đã hạn chế khả năng vận dụng kết quả nghiên cứu lý thuyết cấu trúc vốn vào các quyết định của doanh nghiệp. Sự phát triển lý thuyết về cấu trúc vốn ghi nhận hai kết quả nghiên cứu có đóng góp quan trọng.
Đồng thời, dưới góc độ tái cấu trúc vốn trong doanh nghiệp, nghiên cứu của Modigliani và Miller (thường được viết tắt là M-M), 1958 và 1963, cho rằng với các quyết định đầu tư nhất quán, các đối tác có quyền lợi liên quan nhưng không nằm trong doanh nghiệp phải đại diện cho cấu trúc vốn có tác động tới giá trị doanh nghiệp. Dư nợ tối ưu của doanh nghiệp cần cân bằng khoản thuế được giảm trừ nhờ việc thanh toán lãi vay với chi phí ngoại sinh của khả năng vỡ nợ. Luận điểm của Jensen và Meckling (thường viết tắt là J-M), 1976, xem xét lại mô hình M-M với giả định các quyết định đầu tư độc lập với cấu trúc vốn. Ví dụ, cổ đông của một doanh nghiệp có vay nợ có thể bòn rút giá trị từ các chủ nợ bằng việc làm tăng rủi ro đầu tư sau khi đã nhận được các khoản vay.
Đây là vấn đề “tài sản thay thế”. Hành vi lợi dụng này tạo ra các chi phí đại 14 z diện (agency costs). Cấu trúc vốn của doanh nghiệp cần nhận diện và kiểm soát tốt các chi phí này. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, lý thuyết và thực nghiệm, được thực hiện dựa trên hai luận điểm trên nhưng với cả giới học thuật và những người vận dụng thực tiễn, các kết quả này đều có hai hạn chế quan trọng.
Như vậy, khái niệm tái cơ cấu doanh nghiệp được khá nhiều tài liệu và công trình nghiên cứu đề cập đến ở nhiều góc độ khác nhau. Nhìn chung, những công trình nghiên cứu nêu trên khi đưa ra khái niệm về tái cơ cấu doanh nghiệp nói chung hay TĐKT nói riêng, đều nhắc đến những cụm từ “sắp xếp”, “điều chỉnh”, “cải tiến”, “đổi mới” về cơ cấu tổ chức, cách thức quản trị doanh nghiệp, nhằm đạt được hiệu quả cao hơn cho doanh nghiệp. Về tính tất yếu và xu hướng tái cơ cấu doanh nghiệp, tác giả Simeon Djankov and Peter Murrell trong bài viết “Enterprise Restructuring in Transition: A Quantitative Survey” [44] đã cho rằng, trong thập kỷ qua, hơn 150.000 doanh nghiệp lớn của 27 nước đã thực hiện quá trình chuyển đổi trong bối cảnh môi trường kinh tế và chính trị thay đổi, do các nước này đã thực hiện cách mạng nhằm cải tổ lại hệ thống doanh nghiệp. Trước tình hình đó, một số doanh nghiệp buộc phải phản ứng trước những thay đổi này.
Với những thay đổi trong thể chế, chính sách cũng như môi trường đã khiến cho các doanh nghiệp buộc phải tự mình thay đổi mới có thể tồn tại trong một thị trường cạnh tranh đầy khốc liệt. Theo tác giả Hoàng Trần Hậu trong bài “Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, nhìn từ kinh nghiệm của một số nước“ [8] thì tái cơ cấu doanh nghiệp ở các nước trên thế giới là hoạt động được diễn ra thường xuyên trong suốt quá trình phát triển của các doanh nghiệp nhằm tìm ra mô hình, phương thức quản trị tốt nhất để tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Xu hướng tái cơ cấu 15 z DNNN ở các nước bắt đầu bằng phương thức tự nâng cao năng lực các doanh nghiệp, thông qua việc cải tổ trong từng doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Việc cải tổ các DNNN theo phương thức này diễn ra khá tập trung trong những năm từ 1970 đến 1980.
Tuy nhiên, xu hướng cải tổ này không đạt được kết quả mong muốn, do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là chưa tách bạch quan hệ sở hữu tài sản và quản lý tài sản. Với phương pháp nghiên cứu dựa trên các số liệu được khảo sát, tác giả Lưu Thị Thu Hà, trong bài “Tái cấu trúc các doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn hiện nay” [7], cho rằng, tái cơ cấu DNNN là một đòi hỏi tất yếu, khách quan trong giai đoạn hiện nay. Các DNNN muốn tồn tại và phát triển đều phải vượt qua bước đường chông gai này. Đồng thời, tái cơ cấu DNNN còn là chủ trương trọng tâm của Chính phủ trong thời kỳ hội nhập.
Để thực hiện tốt quá trình này cần phải có lộ trình cụ thể, khoa học, phù hợp với tình hình thực tế của nền kinh tế, của từng doanh nghiệp. Đồng thời các giải pháp cần được áp dụng một cách hợp lý, đồng bộ để có thể đưa khu vực DNNN phát triển lớn mạnh, đáp ứng được sự kỳ vọng của toàn xã hội. Cũng về bối cảnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhưng nghiên cứu tại một quốc gia cụ thể là Nhật Bản, trong công trình nghiên cứu “Corporate Restructuring in Japan; An Event-Study Analysis“ [43], tác giả Jorge A. Chau-Lau đã đề cập đến sự sụp đổ bong bóng kinh tế đầu những năm 1990 dẫn tới tình trạng trì trệ của nền kinh tế Nhật Bản trong 10 năm tiếp theo.
Nguyên nhân là từ hệ thống ngân hàng hàng đầu.