Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Khái niệm về chính sách CNTT từ góc độ chính sách công 1. Khái niệm, CNTT và chính sách phát triển CNTT a. Khái niệm CNTT và lịch sử phát triển Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận về khái niệm công nghệ thông tin theo cách tiếp cận thông thường, công nghệ thông tin (tiếng Anh là information Technology hay viết tắt là IT) là một nhóm ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin.
Ở Việt Nam, khái niệm công nghệ thông tin (CNTT) lần đầu được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết số 49/CP của Chính phủ ngày 04/08/1993 như sau: “ Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại – chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông, nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”. Tại Việt Nam theo luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 thì thuật ngữ công nghệ thông tin được định nghĩa như sau: “ Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản suất, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”; đây cũng là hướng tiếp cận của tác giả về luận văn này. Khái niệm chính sách và chính sách công Thuật ngữ “chính sách”, “chính sách công” là những thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong khoa học chính sách công, trong khoa học chính trị và trong ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày. Thuật ngữ “chính sách” cũng xuất hiện khá phổ biến trong các văn kiện của Đảng, trong các văn bản pháp luật của 10 Luan van Nhà nước ta, trên môi trường Internet, truyền hình, trong sách báo, và cả đời sống xã hội hiện nay.
Tuy nhiên nói về định nghĩa và khái niệm thì đến nay các nhà học thuật vẫn chưa đạt được sự thống nhất cho khái niệm này, mà mỗi nhà học thuật tiếp cận và đưa ra các cách định nghĩa khác nhau tùy vào góc độ tiếp cận khác nhau. Theo William Jenkin, 1978 (nêu trong [8]), chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó. Như vậy, chính sách công là tập hợp các biện pháp can thiệp được thể chế hóa mà Nhà nước đưa ra nhằm đạt được mục tiêu quản lý của mình James Anderson, 2003 [15] cho rằng chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân; hoặc “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa.” Như vậy có thể hiểu: “Chính sách là tập hợp các hoạt động liên quan với nhau, được lựa chọn và quyết định thực hiện, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”. Qua những khái niệm về chính sách công chúng ta có thể khái quát về chính sách công như sau: “Chính sách công là tập hợp các quyết định do Nhà nước ban hành nhằm can thiệp giải quyết các vấn đề về xã hội của một đất nước. Tại Việt Nam thì chính sách công thường được gọi với khái niệm chính 11 Luan van sách của Nhà nước với một ý nghĩa gần giống với chính sách công mà hiện giờ đang được sử dụng rộng rãi. Các chủ thể của chính sách thường được phân biệt (cơ quan ban hành) và đối tượng của chính sách (lĩnh vực chịu tác động).
Một chính sách được ban hành có thể bởi Nhà nước hay các cơ quan các cấp có thẩm quyền thuộc Nhà nước ban hành. Theo đó các chính sách thường có các chính sách tương đồng với vấn đề cần có chính sách như; chính sách đối ngoại, đối nội để phát triển kinh tế xã hội… c. Khái niệm chính sách phát triển CNTT Theo các định nghĩa và các khái niệm “ chính sách phát triển CNTT” theo tác giả là các hành động cụ thể của Nhà nước thể hiện bằng các văn bản hành chính nhằm đưa ra các định hướng nhằm phát triển CNTT trong thời đại mới, thời đại của cuộc cách mạng số. Tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách phát triển CNTT Trong nền hành chính nhà nước hiện nay ở Việt Nam, để hiểu về thuật ngữ “hiện đại” được hiểu là tư duy, nhận thức, tinh thần, ở các nước Châu âu vai trò của Nhà nước đều được đánh giá lại mỗi khi chuyển đổi mô hình.
Tại thời điểm thế giới bị khủng hoảng về kinh tế, các mô hình ứng dụng quản lý công mới đã thay thế hành chính công cụ đi đôi với đổi mới sáng tạo và cải cách bộ máy hành chính. Chính phủ đã nhận thức vai trò của mình trong việc áp đặt về mặt quản lý sang phục vụ nhu cầu của người dân theo nguyện vọng một cách dân chủ. Từ đó hình thành mô hình quản trị nhà nước tốt hơn. Với thời điểm CNTT đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay mô hình quản trị Nhà nước đang dần dần thay thế cho mô hình quản lý Nhà nước và coi Nhà nước là vai trò chủ thể, với mô hình quản trị của Nhà nước đang tồn tại hai mối quan hệ: quản trị xã hội là Nhà nước (chủ thể) đảm nhiệm quản trị, thiết chế xã hội bằng các chính sách khác nhau đối với công dân.
Chính vì vậy Nhà 12 Luan van nước phải có trách nhiệm trả lời, giải trình về chính sách đối với nhân dân và xã hội khi thực hiện đó chính là sự cần thiết trong mô hình chuyển đổi từ quản lý sang quản trị. Do vậy, để phát triển thì nền hành chính phải được thay đổi về mặt tư duy và từng bước hiện đại hóa mô hình này. Quá trình hiện đại hóa hành chính ở Việt Nam ở cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI được thể hiện thông qua chiến lược cải cách hành chính với Nghị quyết trung ương 8 khóa VII (1995). Trong công cuộc đổi mới từng bước hiện đại hóa đã thực hiện cứng nhắc và áp dụng một cách máy móc nên dẫn tới quá trình cải cách hành chính của nước ta đã không đạt được hiệu quả như mong đợi.
Ngày 25 tháng 7 năm 2001 ban hành Quyết định 112/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005, và được gọi tắt là Đề án 112, coi đó là ví dụ điển hình. Với việc đầu tư rất nhiều về nguồn lực, kinh phí của Chính phủ cho đến nay việc vận hành nền hành chính vẫn chưa có một kết quả như mọng đợi và không cải thiện được bao nhiêu. Quản lý hành chính Nhà nước bằng CNTT luôn có hai mặt. Nếu không áp dụng CNTT một cách triệt để thì việc áp dụng CNTT để đổi mới này chỉ dùng cho những mục đích tìm kiếm thông tin và giải trí.
Do đó, với việc trang bị máy tính tại cơ quan từ Trung ương tới địa phương chỉ để dùng và các hoạt động như trò chuyện trực tuyến, nghe nhạc, xem phim của bộ phận cán bộ công chức, viên chức dẫn đến thực hiện không được thuận lợi cho việc cải cách hành chính của một Quốc gia. Trong thời điểm hiện nay việc gộp các cơ quan hành chính đang được đẩy mạnh nhưng trên thực tế hình thức gộp này đang được thể hiện như một hình thức cơ học, chính vì thế lượng cán bộ công chức, viên chức biên chế vẫn bị phình ra dẫn đến việc giao các quyền hạn trong công tác quản lý bị chồng chéo lẫn nhau…Đó chính là hệ quả của việc cải cách hành chính mà chưa nhận thức sâu sắc về cải cách 13 Luan van hành chính. Vài Năm trở lại đây, Đảng và Chính phủ đã có những chỉ đạo, những bước đi đúng đắn tìm những giải pháp để đưa nền hành chính Quốc gia trở thành nền hành chính hiện đại, hiệu quả, để có thể tạo lên một xã hội phồn vinh và dân chủ. Để thực hiện điều đó Đảng và Chính phủ đã đưa ra các văn bản để chỉ đạo và định hướng.
Nổi bật có thể nói đến như: Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 08 tháng 11 năm 2011 về việc ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011 – 2020; Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 26/NQ- CP của Chính phủ ban hành ngày 15 tháng 4 năm 2015 về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; hay như Nghị quyết số 36a/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 10 năm 2015 về Chính phủ điện tử. Những trọng tâm chính trong chương trình cải cách hành chính để hiện đại hóa nền hành chính đã nêu tại nghị Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 được thể hiện với sau nội dung chính như sau: - Thứ nhất, đẩy mạnh công tác quản lý điều hành và các hoạt động quảng bá hình ảnh như tập chung phát triển, hoàn thiện các hệ thống ứng dụng gồm hệ thống văn bản và điều hành tác nghiệp, hệ thống cổng thông tin để đưa vào công tác quản lý hành chính của Chính phủ trên môi trường Internet. Để cải cách nền hành chính nước ta diễn ra đúng theo lộ trình thì việc ứng dụng CNTT được coi là một bước đột phá quan trọng để thực hiện cải cách, đến năm 2022 phải đạt được 95% việc trao đổi thông tin giữa các cơ 14 Luan van quan Nhà nước về các văn bản, tài liệu.