Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Nhận xét và đánh giá về những vấn đề liên quan đến luận án trong các công trình nghiên cứu đã công bố 1. Các công trình liên quan đến làng nghề và phát triển bền vững làng nghề 1. Các công trình liên quan đến làng nghề Làng nghề là thiết chế kinh tế - xã hội nông thôn mang đậm nét văn hóa truyền thống của các quốc gia phương Đông, trong đó có Trung Quốc.
Chính vì thế, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc về làng nghề, vai trò của làng nghề trong bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống. Có thể kể đến nhà nghiên cứu Liu Peilin, trong bài “To establish a protection system for China’s famous villages of historic and cultural interest” (1988) Liu Peilin cho rằng làng nghề truyền thống được ví như ngọc trai của văn hóa truyền thống và bảo vật quốc gia của bộ sưu tập dân gian. Tiếp đó, bài nghiên cứu “Persistence and transformation of Chinese traditional villages – Rethinking the planning of traditional settlement” của Ma Hang (2006) tiếp tục chỉ ra khía cạnh giá trị của các làng nghề truyền thống của Trung Quốc cần được gìn giữ và bảo tồn, hướng tới khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống ở Trung Quốc. Làng nghề và phát triển làng nghề là một yếu tố cấu thành quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn.
Vai trò của kinh tế làng nghề trong phát triển kinh tế nông thôn được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nước ngoài. Robert Chapman và Robert Tripp (2003) trong bài viết “Changing incentives for agricultural extension – A review of privatized extension in practice” đã chỉ ra rằng kinh tế nông thôn không chỉ phụ thuộc vào nông nghiệp mà còn phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động kinh tế khác ở nông thôn. Mặc dù nghề nông vẫn có một vai trò quan trọng nhưng các hộ gia đình vẫn đang tìm kiếm cơ hội khác ngoài nông nghiệp đề làm tăng và ổn định thu nhập. Hơn nữa, việc theo đuổi các ngành nghề phi nông nghiệp giúp cho hộ gia đình tránh được rủi ro từ nông nghiệp.
9 Nghiên cứu “The rural non-farm economy and poverty alleviation in Armenia, Georgia and Romania” của J. Bezemer (2004) đã quan tâm đến khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn tại các nước đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi cho rằng: các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp là một phần của hoạt động sinh kế bên cạnh nghề nông và cũng là các hoạt động đa dạng sinh kế. Nghiên cứu này cho thấy vai trò quan trọng của phát triển làng nghề trong phát triển kinh tế, phát triển nông thôn. Phát triển làng nghề, công nghiệp nông thôn là giải pháp quan trọng tạo ra công ăn việc làm, cải thiện thu nhập cho dân cư vùng nông thôn.
Trong khi đó, Lanjouw Peter và Lanjouw Jean (1995) trong bài nghiên cứu “Rural Nonfarm employment: a survey” chỉ ra rằng các nước đang phát triển thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế thì phải đối mặt với thực trạng ít đất nông nghiệp, dư thừa lao động, năng suất lao động thấp, do vậy phát triển nông thôn phải tập trung vào phát triển ngành nghề, công nghiệp hóa nhằm thu hút giải quyết lao động dôi dư đó, làm tăng giá trị gia tăng nhờ vậy cải thiện được thu nhập. Từ thực tế của Indonexia, G. Mary (1994) trong bài “Research on Tourism development of traditional village and the change of form” cho rằng phát triển các làng nghề gắn liền với hình thái du lịch sinh thái kết hợp với khu vườn làng nghề truyền thống, góp phần cải thiện thu nhập và tình hình kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn Indonêxia. Trong khi đó, từ kinh nghiệm của Nhật Bản trong Chương trình phát triển phong trào mỗi làng một sản phẩm, N.Suzuki (2006) trong bài viết “Effective tourism development through traditional craft promotion – Japanese Experiences” cho rằng Chương trình này được phát động nhằm mục đích thúc đẩy phát triển mạnh các sản phẩm đặc trưng của mỗi vùng.
Chính phủ Nhật Bản tập trung nghiên cứu hỗ trợ để mỗi làng phát triển mạnh tạo ra sản phẩm tiêu biểu mang tính đặc trưng của mỗi vùng có chất lượng cao, chủ yếu hỗ trợ vào khâu tiếp thị xúc tiến bán hàng, tập huấn chuyển giao công nghệ cho nông dân. Ở Việt Nam, làng nghề và phát triển làng nghề cũng đã nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học. 10 Tác giả Trần Minh Yến trong công trình “Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa” (2004) cho rằng: làng nghề được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính. Còn trong công trình “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” (1998), nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng nhấn mạnh "Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công.
Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cùng đồng thời làm nghề nông. Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình" [83]. Mai Thế Hởn trong “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2003) cho rằng làng nghề là những thôn làng có một hoặc hai nghề thủ công truyền thống tách ra khỏi nông nghiệp và đem lại nguồn thu nhập chủ yếu.
Như vậy, các nhà nghiên cứu về làng nghề đều cơ bản thống nhất các nội dung cơ bản của khái niệm làng nghề như: gồm hai yếu tố “làng” và “nghề” (Trần Minh Yến, 2004), nổi trội một nghề thủ công với tầng lớp thợ chuyên nghiệp, (Bùi Văn Vượng, 1998) và sống được bằng chính nghề đó (Mai Thế Hởn, 2003). Như vậy, có thể thấy các nhà nghiên cứu đưa ra các quan niệm khác nhau về làng nghề nhưng tựu trung các ý kiến đều thống nhất cho rằng làng nghề được kết hợp bởi hai yếu tố “làng” và “nghề”. “Làng” để chỉ không gian của hoạt động diễn ra chủ yếu ở khu vực nông thôn; “nghề” để khẳng định hoạt động chính của làng phải liên quan đến các ngành nghề thủ công. Đây là những cách hiểu cơ bản và có ý nghĩa lý luận nền tảng về làng nghề, là tiền đề để tiếp tục nghiên cứu vấn đề lý luận về làng nghề trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và nhu cầu gìn giữ truyền thống văn hóa dân tộc.
Nghiên cứu về vai trò của làng nghề, nhà nghiên cứu Trương Minh Hằng trong bài “Làng nghề truyền thống với việc bảo tồn các giá trị văn hóa nghề” (2006) cho rằng làng nghề đem lại một sắc thái riêng, độc đáo trong bức khảm văn hóa Châu Á và sản phẩm của làng nghề sẽ trở thành cầu nối giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực. Nhà nghiên cứu Mai Thế Hởn (2003) và Trần Minh Yến (2004) 11 đánh giá cao vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn. Một cách khái quát, làng nghề không chỉ thể hiện vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn, đảm bảo mục tiêu ổn định xã hội mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc. Chính vì vậy, quan điểm chung trong phát triển làng nghề là phát triển làng nghề gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn (Mai Thế Hởn, 2003), theo phương châm “ly nông bất ly hương” (Dương Bá Phượng trong công trình “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa”, 2001), (Trần Minh Yến, 2004) và kết hợp phát triển kinh tế với việc bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển toàn diện nông thôn (Dương Bá Phượng, 2001) – quan điểm khá thời sự và có giá trị trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt đặt trong mối quan hệ với PTBV và xây dựng nông thôn mới.
Thêm vào đó, Trần Văn Kính nhấn mạnh trong bài viết “Bảo tồn và phát triển làng nghề thủ công truyền thống – Một sự lựa chọn xác đáng” (1996) rằng, hướng về làng nghề là hướng về cội nguồn dân tộc và cũng là cách để thực hiện công nghiệp hóa nông thôn đồng thời bảo tồn và phát triển làng nghề là một sự lựa chọn xác đáng, có tương lai. Như vậy, các nhà nghiên cứu đều nhận định làng nghề có vai trò quan trọng trong việc góp phần phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội đồng thời gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Xuất phát từ vai trò to lớn của làng nghề trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội nên việc nghiên cứu, tìm kiếm giải pháp nhằm đảm bảo làng nghề phát triển là vô cùng cần thiết. Về thực trạng phát triển làng nghề, có rất nhiều công trình nghiên cứu và các hội thảo được tổ chức để phân tích các mặt tích cực và hạn chế của phát triển làng nghề trên quy mô toàn quốc và từng địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp phát triển làng nghề.
Dương Bá Phượng (2001), Trần Minh Yến (2004) và Vũ Quốc Tuấn (trong công trình “Làng nghề trong công cuộc phát triển đất nước”, 2011) cho rằng sự phát triển làng nghề gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất do 12 nguyên liệu tại chỗ còn hạn chế, kết cấu hạ tầng, kỹ năng quản lý còn yếu kém. Thêm vào đó, Dương Bá Phượng (2001), Vũ Quốc Tuấn (2011) chỉ ra những hạn chế về thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề, khó khăn trong tiếp cận các nguồn vốn ngân hàng, thiếu các trung tâm đào tạo nghề, chưa có chính sách phù hợp đối với đội ngũ nghệ nhân. Tô Ngọc Thanh trong bài “Làng nghề truyền thống và những vấn đề cấp bách đặt ra” (1996) nêu lên những khó khăn trong phát triển làng nghề, trong đó nhấn mạnh đến thực trạng thiếu các chính sách đồng bộ đối với việc giữ gìn và phát triển làng nghề như chính sách giá cả, thuế, cơ chế xuất khẩu. Đồng quan điểm này, Dương Bá Phượng (2001) cho rằng môi trường thể chế đang là khâu yếu kém trong phát triển làng nghề, thể hiện ở việc chưa có hệ thống chính sách cần thiết, hoàn thiện và đồng bộ dành riêng cho phát triển làng nghề trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.