CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LAO ĐỘNG NỮ VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM 1. Lực lượng lao động xã hội và lực lượng lao động nữ 1. Khái niệm lực lượng lao động xã hội Từ năm 1996 đến nay, trong các cuộc điều tra Lao động Việc làm hàng năm trên cả nước luôn sử dụng khái niệm về lực lượng lao động như sau: Lực lượng lao động bao gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm.
Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (còn gọi là dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động ) bao gồm những người trong độ tuổi lao động đang có việc làm hoặc không có việc làm (thất nghiệp) nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc. Như vậy, có thể hiểu theo nghĩa hẹp (có giới hạn về độ tuổi lao động) thì: lực lượng lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang có việc làm và những người chưa có việc làm nhưng có nhu cầu tìm kiếm việc làm. Ở Việt nam, độ tuổi lao động được qui định từ 15 tuổi đến hết 60 tuổi đối với nam và từ 15 tuổi đến hết 55 tuổi đối với nữ. Hiểu theo nghĩa rộng, lực lượng lao động bao gồm những người có khả năng lao động đang trong độ tuổi lao động và những người ngoài độ tuổi lao động, (tức là từ 15 tuổi trở lên theo qui định của Việt Nam) nhưng hiện đang làm việc hoặc thất nghiệp nhưng có nhu cầu làm việc.
Khái niệm lực lượng lao động Nữ Từ khái niệm lực lượng lao động ở trên có thể hiểu khái niệm lực lượng lao động nữ như sau: 7 Lực lượng lao động nữ bao gồm những người phụ nữ từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động, đang có việc làm hoặc chưa có việc làm nhưng có nhu cầu tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc. Lực lượng lao động nữ trong độ tuổi lao động bao gồm những người phụ nữ từ 15 tuổi đến 55 tuổi, có khả năng lao động, hiện đang có việc làm hoặc chưa có việc làm nhưng đang tìm kiếm việc làm. Đặc điểm của lao động Nữ + Trước tiên là đặc điểm thiên chức làm mẹ : Do chức năng tự nhiên của giới tính, phụ nữ có thiên chức mang thai và sinh con, nuôi con bằng dòng sữa của mình. Mỗi người phụ nữ nếu sinh hai con thì thường là phải mất từ 5 đến 10 năm đề dành tâm trí và sức lực cho việc sinh nở và chăm sóc con cái.
Đây chính là trở ngại lớn nhất đối với lao động nữ khi tham gia thị trường lao động so với lao động nam. + Thứ hai là đặc điểm sức khỏe sinh lý: Phụ nữ thường là thấp bé, nhẹ cân, chân yếu tay mềm lại phải đảm nhận thiên chức làm mẹ nên không thích hợp với công việc nặng nhọc, độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe người mẹ và thai nhi như những công việc trên cao, công việc dưới nước hoặc tiếp xúc với hóa chất độc hại. Bên cạnh đó, đặc tính của phụ nữ lại rất dịu dàng, khéo tay, cần cù, chịu khó nên rất thích hợp các nghề thêu ren, giáo dục, dịch vụ, thủ công truyền thống và chế biến nông sản, thực phẩm,. + Thứ ba là đặc điểm về xã hội: So với nam giới, điều kiện sinh hoạt ăn, ở của lao động nữ thường phức tạp hơn.
Lao động nữ thường có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn thấp hơn lao động nam. Thêm vào đó là tính rụt rè, tự ti, an phận và khó thích nghi được với những điều kiện làm việc nư thường xuyên đi công tác xa nhà, làm việc ban đêm, nghề có tính chất nguy hiểm,.là những trở ngại đối với lao động nữ. Chính sách lao động Nữ và nội dung của chính sách lao động Nữ 1. Chính sách xã hội và chính sách lao động Nữ * Quan niệm về chính sách xã hội Chính sách là sự thể chế hóa, cụ thể hóa tư tưởng, quan điểm của chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất chế độ chính trị - xã hội, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của Nhà nước, cộng đồng xã hội, phản ánh lợi ích giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục đích cao nhất là phục vụ con người.
Dưới giác độ quản lý nhà nước, chính sách là công cụ quan trọng để giải quyết các vấn đề của đất nước, điều chỉnh các mối quan hệ chính trị - xã hội trong từng giai đoạn phát triển cụ thể của đất nước. Như vậy có thể nói rằng: chính sách xã hội là tổng thể những biện pháp, cách thức, phương thức của nhà nước tác động vào lĩnh vực xã hội. Nhằm đưa các hoạt động xã hội phát triển theo những mục tiêu nhất định trong những giai đoạn nhất định. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 6 đã nêu rõ « chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp,.
Coi nhẹ chính sách xã hội tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ». Chính sách xã hội tác động và liên quan đến nhiều lĩnh vực hoạt động lớn của xã hội, đến những đối tượng khác nhau, và một trong số các đối tượng được hưởng thụ chính sách xã hội chính là lực lượng lao động nữ nói riêng và phụ nữ nói chung. * Quan niệm về chính sách đối với lao động nữ Phụ nữ chiếm một nửa của nhân loại, vì vậy ở mỗi quốc gia phụ nữ luôn là đối tượng tác động, điều chỉnh của hệ thống chính sách. Chính sách lao động nữ nằm trong hệ thống chính sách xã hội.
Chính sách lao động nữ có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. 9 Lao động nữ trước hết là người lao động xã hội, vì vậy hệ thống chính sách về lao động của Đảng và Nhà nước ta đều trực tiếp hoặc gián tiếp có tác động đến lao động nữ. Có thể nói, chính sách đối với lao động nữ là hệ thống các chủ trương, quan điểm đã được thể chế hóa dưới nhiều hình thức, nhằm tạo điều kiện cho người phụ nữ phát huy năng lực của mình trên mọi lĩnh vực chính trị-kinh tế-văn hóa-xã hội. và đảm bảo công bằng xã hội giữa phụ nữ và nam giới.
Về mặt nhận thức, chính sách đối với lao động nữ được hiểu như một bộ phận của chính sách xã hội nói chung là sự kết hợp và lựa chọn của các nhà hoạch định chính sách trước các tương quan nhiều chiều giữa hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài.Về nguyên tắc, lao động nữ sẽ có những điều kiện vật chất, tinh thần, môi trường khi kinh tế phát triển và chính sách xã hội chung được đảm bảo. Ngoài mục đích là xây dựng và phát huy công bằng xã hội giữa hai giới thì chính sách đối với lao động nữ còn nhằm khắc phục sự bất bình đẳng, thiếu công bằng và phát triển mất cân đối giữa phụ nữ thuộc các nhóm xã hội, nghề nghiệp, dân tộc và các vùng khác nhau. Vậy, chính sách lao động Nữ là một bộ phận của chính sách xã hội, được áp dụng đối với phụ nữ trong độ tuổi lao động nhằm phát huy vai trò của lao động Nữ trong qua trình phát triển kinh tế xã hội. Chính sách xã hội đối với lao động nữ chỉ có thể phát huy tác dụng khi tính đến các chức năng riêng có của phụ nữ trong một thể hoàn chỉnh luôn động và tạo điều kiện để người phụ nữ lựa chọn hoặc kết hợp theo cái mà họ thấy có lợi nhất cho gia đình và bản thân.
Nội dung của chính sách đối với lao động Nữ Phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng là nhóm người dễ bị thương tổn theo các mức độ khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, họ thuộc một 10 trong những nhóm bất lợi và cần có sự hỗ trợ của Chính phủ, của xã hội và của cộng đồng. Vì vậy, hệ thống luật pháp, chính sách việc làm cho lao động nữ đã quy định một số biện pháp ưu tiên để bù đắp thiệt thòi của họ và giúp cho lao động nữ khắc phục các rào cản về giới, khuyến khích lao động nữ vừa hoàn thành tốt các công tác xã hội và vai trò làm mẹ, làm vợ trong gia đình. Trong hơn 40 năm qua đã có khoảng 45 vạn văn bản của Nhà nước đề cập đến các chính sách xã hội đối với lao động nữ.
Sự đổi mới của đất nước đã làm cho các chính sách nói chung và chính sách lao động nữ nói riêng cũng dần được đổi mới, hoàn thiện để phù hợp với điều kiện mới, trong đó Bộ Luật Lao động (1995) đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng chính sách về lao động nữ. Chương X của Bộ Luật Lao động gồm 10 điều qui định các quyền lợi cụ thể của lao động nữ có liên quan đến chức năng, đặc điểm riêng của phụ nữ, ( từ Điều 109 đến Điều 118). Nội dung của các văn bản chính sách và pháp luật này rất phong phú, trong đó tập trung vào một số vấn đề chính của lĩnh vực lao động nữ bao gồm: * Chính sách về lao động việc làm Chính sách việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mọi quốc mọi gia nhằm góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội. Chính sách việc làm được thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật các quan điểm, chủ trương, phương hướng và các cách giải quyết việc làm cho người lao động.
Quan điểm của Nhà nước ta trong chính sách việc làm là cố gắng tạo điều kiện để người lao động có được việc làm, khuyến khích mọi người tự tạo việc làm, và tạo ra việc làm để thu hút hêm lao động xã hội. Có việc làm đồng nghĩa với có thu nhập, tạo điều kiện cho lao động nữ vươn lên bình đẳng với nam giới trong gia đình và ngoài xã hội. Lao động nữ sẽ phát huy vai trò của mình trong giáo dục và nuôi dạy con cái, hạn chế các tiêu cực xã hội, góp phần bình ổn xã hội.