CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT XỨ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU VÀ CHÍNH SÁCH KIỂM TRA XUẤT XỨ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU CỦA HẢI QUAN 1. Xuất xứ hàng hóa nhập khẩu 1. Khái niệm xuất xứ hàng hóa Theo Điều 1 Hiệp định trị giá GATT 1994 (đoạn 1, phụ lục II) định nghĩa: “Xuất xứ hàng hóa là “quốc tịch” của một hàng hóa”. Một cách đơn thuần “hàng hóa hoàn toàn được khai thác, nuôi trồng, chế biến tại một nước mà không có sự tham gia của hàng hóa nhập khẩu từ nước khác thì được coi là có xuất xứ từ nước đó”.
Theo khoản 14, điều 3, Luật Thương mại Việt Nam: Xuất xứ hàng hóa là nước, vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa đó. Hiệp định Lisbon (31/10/1958) về bảo hộ địa danh xuất xứ và đăng ký quốc tế địa danh xuất xứ quy định: “Việc xác định địa danh của một xứ sở, một vùng, một địa phương để đặt tên cho một sản phẩm có xuất xứ từ đó thì sản phẩm này phải có chất lượng hoặc đặc tính mang đạm nét đặc thù của môi trường địa lý bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố con người”. Theo phụ lục K- Công ước Kyoto (Công ước quốc tế về hài hòa và đơn giản hóa thủ tục hải quan, sửa đổi năm 1999) thì: “Nước xuất xứ hàng hóa là nước mà ở đó hàng hóa được sản xuát và chế tạo, phù hợp với tiêu chuẩn được áp dụng trong biểu thuế hải quan, giới hạn về số lượng hoặc các biện pháp khác liên quan đến thương mại”. Như vậy, xuất xứ hàng hóa chỉ là một khái niệm tương đối, chỉ quốc gia, vùng, lãnh thổ nơi hàng hóa được sản xuất ra.
Tuy nhiên, không phải hàng hóa nào 5 cũng được sản xuất toàn bộ ở một quốc gia nhất định. Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế như hiện nay thì không thể có tình trạng chỉ có một nước hay vùng lãnh thổ sản xuất ra toàn bộ một hàng hóa nào đó (trừ sản phẩm nông nghiệp, khai khoáng) mà thực tế cùng với sự phát triển của phân công lao động và giao lưu buôn bán quốc tế, một hàng hóa được sản xuất ra có thể có sự đóng góp của nhiều quốc gia, vùng, lãnh thổ khác nhau. Việc xác định và thừa nhận quốc gia, vùng, lãnh thổ nào là xuất xứ của hàng hóa trên thực tế khá phức tạp và không phải lúc nào cũng thống nhất. Vai trò của xuất xứ hàng hóa 1.
Xuất xứ hàng hóa đóng một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát hoạt động ngoại thương Các nước phát triển sử dụng xuất xứ hàng hóa như phương tiện để áp dụng các biện pháp bảo vệ như hạn ngạch nhập khẩu, đánh thuế đối kháng, chống bán phá giá để kiểm soát lượng hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Hiện nay trên thế giới có 3 thị trường lớn đang sử dụng việc cấp hạn ngạch nhập khẩu như một biện pháp ưu đãi ngoại thương đối với các nước đang phát triển (thực chất đây là biện pháp kiểm soát hoạt động ngoại thương, bảo vệ thị trường nội địa) là Mỹ, Cộng đồng kinh tế Châu Âu và Nhật Bản. hàng hóa có xuất xứ từ các nước đang phát triển nhập vào các thị trường này, nếu nằm trong hạn ngạch được phép thì có thuế suất thuế nhập khẩu rất thấp, ngược lại thì phải chịu thuế suất cao. Điều này khẳng định vai trò của xuất xứ hàng hóa như một phương tiện định vị chính sách kiểm soát hoạt động ngoại thương đối với một số nước.
Tạo thuận lợi cho hàng xuất khẩu được hưởng ưu đãi và quyền lợi của nước xuất khẩu tại nước nhập khẩu Hàng hóa ưu đãi chỉ được hưởng ưu đãi từ các nước có những hiệp định song phương và đa phương với nhau. Xác định chính xác xuất xứ sẽ đảm bảo sự thuận lợi và công bằng của việc hưởng thuế suất ưu đãi của nước nhập đối với hàng hóa của nước xuất khẩu tại thị trường của nước nhập khẩu. Xuất xứ hàng hóa được sử dụng kết hợp với mã số thuế để xác định mức thuế suất của thuế nhập khẩu Xuất xứ hàng hóa là cơ sở để áp dụng các chính sách thuế khác nhau của quốc gia trong hoạt động thương mại. Ví dụ: Việt Nam đang áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt đối với hàng hóa có xuất xứ từ các nước và vùng lãnh thổ đã có thỏa thuận FTA hoặc thuế suất ưu đãi tối huệ quốc hoặc ưu đãi đặc biệt khác đối với hàng hóa có xuất xứ từ các nước có quan hệ thương mại với Việt Nam.
Các nước khác chưa ký thỏa thuận về đối xử tối huệ quốc và ưu đãi đặc biệt trong quan hệ thương mại với Việt Nam thì hàng hóa có xuất xứ từ các nước này nhập khẩu vào Việt Nam được áp dụng theo biểu thuế suất thông thường. Khẳng định uy tín, trách nhiệm của hàng hóa đối với thị trường, khách hàng và vị trí của nước xuất hàng trong thương mại quốc tế Vai trò này thể hiện rất rõ khi hàng hóa xuất khẩu đứng vững trên thị trường thương mại quốc tế. Uy tín chất lượng của hàng hóa đôi khi gắn liền với xuất xứ được khách hàng tín nhiệm và thừa nhận. Việc xác định xuất xứ ghi trên nhãn hiệu sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu thụ của mặt hàng đó cũng như uy tín của quốc gia.
Vai trò của xuất xứ hàng hóa trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và bảo vệ môi trường Trong những trường hợp cần thiết, kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhằm xác định hàng hóa có xuất phát từ vùng có nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm hoặc bệnh dịch. Khi đó, hải quan căn cứ vào xuất xứ để kiểm tra về mặt dịch tễ, hoặc không cho hàng hóa vi phạm nhập khẩu để ngăn chặn việc lây lan của dịch bệnh, đảm bảo sức khỏe cộng đồng, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và bảo vệ môi trường. Thông qua xuất xứ hàng hóa, các quốc gia có thể kiểm soát cả xuất khẩu, nhập khẩu các sản phẩm, nguyên liệu phương hại đến lợi ích cộng đồng, an ninh chính trị và bảo vệ môi sinh. Vai trò của xuất xứ hàng hóa trong việc thống kê thương mại và duy trì hệ thống hạn ngạch Xác định xuất xứ hàng hóa là một tiêu chí quan trọng và cần thiết của việc thống kê ngoại thương theo từng nước hoặc từng khu vực, làm cơ sở để các quốc gia hoạch định chính sách ngoại thương, tham gia vào các cuộc đàm phán quốc tế.
Nhờ tiêu chí này, cơ quan thương mại sẽ căn cứ vào các số liệu thống kê thực tế để xem xét việc duy trì hệ thống hạn ngạch cũng như tính toán hạn ngạch cho từng mặt hàng cụ thể. Qua các số liệu thống kê ngoại thương, các Chính phủ và các tổ chức quốc tế có thể dự báo, hoạch định chính sách, chiến lược phát triển thương mại phù hợp điều kiện phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc quốc tế. Các nước phát triển sử dụng xuất xứ hàng hóa như phương tiện để áp dung các biện pháp bảo vệ như hạn ngạch nhập khẩu, đánh thuế đối kháng, chống bán phá giá để kiểm soát lượng hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Số liệu thống kê được lập theo tiêu chí xuất xứ giúp cho Chính phủ đưa ra các biện pháp và chính sách trong việc cân bằng cán cân thương mại đối với từng nước, từng khu vực trên thế giới, điều hành cơ chế xuất nhập khẩu một cách kịp thời và chính xác.
Phân loại xuất xứ hàng hóa Hiện nay, xuất xứ hàng hóa thường được phân loại theo mục đích của việc xác định xuất xứ. Theo tiêu thức này, xuất xứ hàng hóa được phân thành hai loại: Xuất xứ ưu đãi và xuất xứ không ưu đãi. Xuất xứ ưu đãi Là xuất xứ của hàng hóa có thỏa thuận ưu đãi về thuế quan và ưu đãi về phi thuế quan. Xuất xứ ưu đãi được chia thành xuất xứ ưu đãi theo điều ước quốc tế và xuất xứ ưu đãi theo chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập và các ưu đãi đơn phương khác.
Xuất xứ không ưu đãi: Là xuất xứ của hàng hóa không có thỏa thuận ưu đãi về thuế quan, ưu đãi về phi thuế quan và trong trường hợp áp dụng các biện pháp thương mại không ưu đãi về đối xử tối huệ quốc, chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự 8 vệ, hạn chế số lượng hay hạn ngạch thuế quan, mua sắm chính phủ và thống kê thương mại. Hiện nay xuất xứ không ưu đãi được chia thành xuất xứ thuần túy và xuất xứ không thuần túy. Xuất xứ thuần túy là xuất xứ của hàng hóa hoàn toàn được khai thác, nuôi trồng, chế biến tại một nước mà không có sự tham gia của hàng hóa nhập khẩu từ nước khác. Còn xuất xứ không thuần túy là nước, vùng lãnh thổ thực hiện công đoạn sản xuất, gia công chế biến cơ bản cuối cùng làm thay đổi cơ bản hàng hóa, áp dụng khi hàng hóa được tạo do nhiều nước khác nhau cùng tham gia vào quá trình sản xuất.
Để xác định sự thay đổi cơ bản hàng hóa, người ta dựa vào tiêu chí chính là tiêu chí “chuyển đổi mã số hàng hóa” và các tiêu chí bổ sung hoặc thay thế là tiêu chí “tỉ lệ phần trăm của giá trị”, tiêu chí “công đoạn gia công hoặc chế biến hàng hóa”. Khi đó, các nước phải thống nhất với nhau những tiêu chí và phương pháp xác định xuất xứ hàng hóa. Sự cần thiết phải kiểm tra xuất xứ hàng hóa Do sự phân biệt đối xử trong chính sách thương mại của quốc gia nhập khẩu hàng hóa khi hàng hóa tham gia vào thương mại quốc tế. Sự phân biệt này có thể là các ưu đãi thuế quan theo thỏa thuận thương mại (song phương, đa phương), hạn ngạch nhập khẩu, các biện pháp đánh thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp chính phủ,.
Chính sách thương mại của một quốc gia đưa ra là nhằm vào một đối tượng cụ thể, một hoặc một số quốc gia nhất định.