PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đƣợc bắt đầu vào những năm 1990 với sự xuất hiện của hai công ty ôtô có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) là Mekong và VMC. Sau gần 25 năm hình thành và phát triển, đến nay đã có nhiều Doanh nghiệp sản xuất lắp ráp ôtô ra đời trong nƣớc. Con số 25 năm so với các nƣớc trong khu vực lại là non trẻ vì ngành ôtô của Việt Nam ra đời sau đến cả 40 - 50 năm.
Tuy nhiên, Nhà nƣớc Việt Nam, với mục đích thu hút đầu tƣ và xây dựng một ngành công nghiệp ôtô để theo kịp các nƣớc trong khu vực, cho nên kể từ khi ra đời cho đến nay, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đƣợc coi là ngành trọng điểm và là ngành luôn đƣợc ƣu đãi nhất trong số các ngành công nghiệp. Sự ƣu đãi đặc biệt này đƣợc thể hiện qua những chính sách hỗ trợ cho ngành công nghiệp ôtô nhƣ chính sách về thuế quan của Bộ Tài chính, chính sách thuế ƣu đãi về tỷ lệ nội địa hóa, thuế nhập khẩu cho linh kiện lắp ráp và thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy vậy, kết quả của một quá trình phát triển đƣợc ƣu đãi của ngành công nghiệp ôtô của Việt Nam là sau hơn 20 năm vẫn không đem lại gì cho đất nƣớc: không phát triển về kỹ thuật, không phát triển về đào tạo nhân sự, không tạo điều kiện tối ƣu để phát triển ngành sản xuất linh kiện theo tiêu chuẩn thế giới và đặc biệt hơn là không tạo đƣợc chỗ đứng trên thị trƣờng trong nƣớc. [5] Bên cạnh đó, xu hƣớng quốc tế hóa, hội nhập kinh tế thế giới ngày càng diễn ra mạnh mẽ.
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam gia nhập WTO chúng ta có những cam kết phải thực hiện nhƣ việc giảm thuế nhập khẩu, chính sách rõ ràng, xóa bỏ bảo hộ tạo sân chơi bình đẳng… Tiến trình hội nhập kinh tế của các quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã thực hiện một bƣớc chuyển lớn bằng việc ra đời của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào ngày cuối cùng của năm 2015 là cơ hội phát triển của ngành công 1 z nghiệp ôtô khu vực cùng với sự cạnh tranh lớn hơn giữa các quốc gia, các nhà sản xuất, dù còn có những trở ngại cho sự phát triển của ngành này. Việt Nam đã nỗ lực mời gọi các hãng sản xuất ôtô hàng đầu thế giới đến đầu tƣ vào ngành công nghiệp ôtô nhằm thúc đẩy cơ hội chuyển giao công nghệ và phát triển công nghệp phụ trợ; trong khi vẫn tiếp tục các chính sách ƣu đãi về thuế nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp trong nƣớc tăng sức cạnh tranh. Tuy nhiên, sau khi AEC ra đời, mức thuế 50% đánh vào xe nhập khẩu từ các nƣớc ASEAN sẽ giảm xuống 0% vào năm 2018 theo điều khoản của Hiệp định thƣơng mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), tiên lƣợng một sự cạnh tranh gay gắt trên thị trƣờng ôtô mà sự chênh lệch sức mạnh lớn thuộc về các đối thủ từ các nƣớc trong khu vực, một tình thế không mấy khả quan là rất có thể Việt Nam yếu thế ngay trên sân nhà. Không khó để hình dung tình thế ngành công nghiệp ôtô của Việt Nam đang ở “ngã ba đƣờng” khi các nhà nhập khẩu ôtô nguyên chiếc cạnh tranh gay gắt với các nhà sản xuất và lắp ráp ôtô trong nƣớc khi tiến trình tự do hóa nền kinh tế [30].
Các công ty lắp ráp xe trong nƣớc lo ngại về việc thực thi điều khoản của ATIGA về bãi bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc. Đến lúc đó, hàng loạt mẫu xe từ các nƣớc Indonesia, Philippines hay Thái Lan sẽ sớm xuất hiện tại Việt Nam với giá thành thấp hơn đáng kể. Vì vậy nếu chính phủ Việt Nam không có giải pháp hỗ trợ phù hợp và kịp thời, sẽ rất khó để cho ngành công nghiệp ôtô Việt Nam có thể trụ lại trong sự cạnh tranh gay gắt giữa các nƣớc trong khu vực và thế giới. Xuất phát từ tính thời sự của vấn đề này, tác giả đã chọn đề tài “Chính sách hỗ trợ ngành công nghiệp ôtô Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài nghiên cứu.
- Sự phù hợp của đề tài với chuyên ngành đào tạo: Chƣơng trình đào tạo Thạc sỹ Kinh tế Quốc tế trang bị cho học viên phƣơng pháp tƣ duy khoa học, có khả năng phát hiện, phân tích, đánh giá các 2 z vấn đề về kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế quốc tế. Việc nghiên cứu về sự phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu và rộng của đất nƣớc là vấn đề thời sự. Trong đó, các chính sách hỗ trợ của chính phủ là một trong những nhân tố chính ảnh hƣởng đến sự phát triển của ngành này, đặc biệt có sự tƣơng tác với các quan hệ kinh tế quốc tế. Do đó, đề tài “Chính sách hỗ trợ ngành công nghiệp ôtô Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” là hoàn toàn phù hợp với chuyên ngành đào tạo.
- Câu hỏi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu nhằm trả lời những câu hỏi sau: + Thực trạng phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam? + Chính phủ đã và nên tiếp tục thực hiện chính sách gì để hỗ trợ cho ngành công nghiệp ôtô Việt Nam phát triển? + Những gợi ý mới về chính sách nhằm hỗ trợ cho ngành công nghiệp ôtô Việt Nam? 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Mục đích chính của đề tài là phân tích và đánh giá việc thực hiện của các chính sách đã áp dụng để hỗ trợ ngành công nghiệp ôtô trong nƣớc, đồng thời dựa trên những bài học kinh nghiệm của các nƣớc khác đã thành công trong việc hỗ trợ ngành công nghiệp sản xuất ôtô của mình từ đó rút ra bài học và đóng góp ý kiến giúp cho ngành công nghiệp ôtô của đất nƣớc phát triển. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xây dựng khung khổ lý thuyết về chính sách hỗ trợ ngành công nghiệp ôtô; - Phân tích thực trạng phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam; - Phân tích các chính sách hỗ trợ và đánh giá mức độ đạt đƣợc trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ ngành công nghiệp ôtô Việt Nam; 3 z - Đề xuất một số gợi ý chính sách hỗ trợ cho sự phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung phân tích vào các chính sách hỗ trợ chính đã đƣợc Việt Nam thực hiện trong thời gian 2007 – 2015, đó là nhóm các chính sách ƣu đãi về tài chính và thuế, các chính sách về thu hút đầu tƣ, chính sách kích cầu thị trƣờng và các chính sách khác.
Phạm vi nghiên cứu - Không gian: Luận văn nghiên cứu về sự phát triển ngành công nghiệp ôtô dƣới sự tác động của các chính sách hỗ trợ đã và đang đƣợc thực hiện trong nƣớc Việt Nam, và có thể mở rộng sang một số nƣớc có ngành công nghiệp ôtô phát triển nhƣ Mỹ, Nhật và một số nƣớc khác trong khu vực nhƣ Thái Lan, Malaysia để so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm. - Thời gian: Luận văn tổng hợp và phân tích số liệu nghiên cứu tập trung trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2015. Tuy nhiên, để sử dụng phƣơng pháp so sánh và các lập luận nhằm làm sáng tỏ quan điểm của mình, tác giả có sử dụng một số dữ liệu ở thời điểm trƣớc thời gian trên. Những đóng góp mới của đề tài - Hệ thống hóa khung khổ lý thuyết về chính sách hỗ trợ ngành công nghiệp ôtô; - Phân tích đƣợc thực trạng ngành công nghiệp ôtô Việt Nam; - Tổng hợp và đánh gía các chính sách hỗ trợ chính của Việt Nam đối với ngành công nghiệp ôtô; - Đề xuất một số gợi ý chính sách hỗ trợ cho Việt Nam nhằm phát triển ngành công nghiệp ôtô.
Kết cấu luận văn Luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng. Cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở khoa học Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3.
Thực trạng ngành công nghiệp ôtô và áp dụng các chính sách hỗ trợ của Việt Nam Chƣơng 4. Một số gợi ý chính sách hỗ trợ nhằm phát triển ngành công nghiệp ôtô việt nam trong thời gian tới 5 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam với lịch sử phát triển hơn 20 năm qua, đƣợc xác định là lĩnh vực quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và luôn là trọng tâm của những chính sách ƣu đãi, hỗ trợ từ phía chính phủ. Với tính chất quan trọng nhƣ vậy, đây là đề tài thu hút sự chú ý của nhiều học giả trong và ngoài nƣớc.
Tuy nhiên các bài viết trong nƣớc hầu nhƣ tập trung vào phân tích sự phát triển toàn ngành công nghiệp ôtô Việt Nam hoặc ngành công nghiệp hỗ trợ ôtô hoặc chính sách bảo hộ ngành công nghiệp ôtô trong nƣớc, hiếm hoi những tài liệu nào nói rõ về công cụ hay chính sách hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam. Thông qua các công trình nghiên cứu, các bài báo cáo hay qua các tạp chí chuyên ngành, các học giả muốn gửi gắm thông điệp riêng đến chính phủ Việt Nam những đóng góp nhằm phát triển ngành công nghiệp sản xuất ôtô trong nƣớc. Các nghiên cứu về ngành công nghiệp ôtô Việt Nam Tác phẩm “The automotive industry in Vietnam: prospects for development in a globalizing economy” (Ngành công nghiệp ôtô ở Việt Nam: triển vọng phát triển trong nền kinh tế toàn cầu) của Timothy J. Sturgeon (1998), Viện Công nghệ Massachusetts của Mỹ, nghiên cứu khá toàn diện và sâu sắc, cung cấp một cái nhìn tổng quan ngắn gọn về tình trạng hiện tại của ngành công nghiệp ôtô Việt Nam, thảo luận về những xu hƣớng vĩ mô trong ngành công nghiệp ôtô thế giới và chính sách hiện tại mà Việt Nam đang áp dụng, từ đó đƣa ra các khuyến nghị rất hợp lý và có ý nghĩa ngay tại thời điểm này nhƣ: phát triển hạ tầng giao thông, xây dựng một cơ chế chính sách ổn định và minh bạch, thiết lập chuỗi cung ứng và tăng cƣờng hợp tác quốc tế.
Tuy nhiên, do đƣợc viết vào năm 1998 nên bài nghiên cứu đã không lƣờng 6 z trƣớc đƣợc các thay đổi chính sách cũng nhƣ vấn đề phát sinh đối với ngành công nghiệp ôtô đến nay đặc biệt trong giai đoạn HNKTQT.