mở đầu mặt trận ngoại giao chống Mỹ, cứu nước. Với đường lối chiến lược nêu trên, ngoại giao Việt Nam đã trở thành một mặt trận quan trọng có ý nghĩa chiến lược, phối hợp chặt chẽ với mặt trận quân sự và mặt trận chính trị, “vừa đánh, vừa đàm” giành thắng lợi từng bước, tiến tới ký kết Hiệp định Paris năm 1973 về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo tiền đề quan trọng cho đại thắng mùa Xuân lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Một cách tổng quát, xuyên suốt trong chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thực hiện đoàn kết, liên minh chặt chẽ giữa cách mạng Việt Nam với các lực lượng cách mạng trên thế giới với phe XHCN là nòng cốt, lấy việc đoàn kết, liên minh với Liên Xô, Trung Quốc làm hạt nhân; phát triển liên minh chiến đấu và giúp đỡ lẫn nhau giữa nhân dân ba nước Đông Dương; trên cơ sở đó hình thành và phát triển một mặt trận hết sức rộng rãi của nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam, tạo sự 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hậu thuẫn mạnh mẽ, vững chắc và giúp đỡ hết sức to lớn. Với chủ trương, chính sách đối ngoại phù hợp, bằng sự nỗ lực cao độ, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã tranh thủ được Liên Xô, Trung Quốc từng bước đồng tình, đi đến ủng hộ đường lối, mục tiêu, lập trường và quyết tâm chiến đấu của nhân dân Việt Nam, giành cho Việt Nam sự giúp đỡ to lớn, quý báu về mọi mặt, trong điều kiện hai nước đang có mâu thuẫn, bất đồng sâu sắc1.
Việt Nam đã tận dụng vai trò quan trọng của Liên Xô trên trường quốc tế, đặc biệt đối với các nước Đông Âu, các tổ chức dân chủ, hoà bình quốc tế, với phong trào giải phóng dân tộc. Việt Nam tranh thủ vai trò to lớn của Trung Quốc là hậu phương trực tiếp của Việt Nam, bảo đảm việc đào tạo cán bộ, xây dựng lực lượng, cung cấp hậu cần, đảm bảo vận chuyển. Việt Nam tranh thủ được các viện trợ không hoàn lại, cho vay không tính lãi với nhiều chương trình kinh tế, thương mại, lương thực, ngoại tệ. và đặc biệt là quân sự của cả Liên Xô và Trung Quốc.
Nhìn chung, sự đoàn kết và giúp đỡ toàn diện, có hiệu quả của các nước XHCN, nhất là của Liên Xô, Trung Quốc từ vũ khí, phương tiện chiến tranh, lương thực đến cả vật tư kỹ thuật và hàng tiêu dùng thông dụng đã góp phần rất quan trọng vào việc tăng cường khả năng quốc phòng và sức mạnh chiến đấu của quân đội và nhân dân Việt Nam. Bên cạnh đó, các lực lượng cách mạng khác, các tầng lớp nhân dân lao động, chiến sỹ hòa bình, nhân sỹ, trí thức, nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ cũng đã dành cho sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam sự ủng hộ và sự đồng tình sâu sắc. Nhờ sự chủ động, tích cực, linh hoạt sử dụng nhiều hình thức tổ chức, nhiều phương thức đấu tranh, huy động nhiều lực lượng tham gia, phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã tạo thành sức mạnh đấu tranh ngoại giao tổng hợp rộng lớn đẩy địch vào thế “bị kẹt bên trong, bị tiến công bên ngoài”. Các chủ trương, chính sách đối ngoại phù hợp, kịp thời mà Đảng, Nhà nước Việt Nam đề ra đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của 1 Từ giữa những năm 50 của thế kỷ XX, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cũng như trong nội bộ các nước XHCN nảy sinh bất đồng về đường lối, quan điểm và lợi ích.
Những bất đồng đó chẳng những không được khắc phục, mà ngày càng trở nên sâu sắc, đặc biệt là giữa Liên Xô và Trung Quốc và được bộc lộ rõ kể từ sau chuyến thăm Bắc Kinh của N. Khơrupxôp (1954) - Tổng bí thư ĐCS Liên Xô. Từ năm 1960, quan hệ Liên Xô - Trung Quốc xấu đi một cách nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trở nên công khai. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nền ngoại giao Việt Nam, góp phần to lớn trong thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Bối cảnh lịch sử và chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1978 1. Bối cảnh quốc tế và trong nước Từ cuối những năm 70 (XX), so sánh lực lượng trên thế giới về quân sự có sự thay đổi, Liên Xô đã giành được thế cân bằng về vũ khí chiến lược với Mỹ. Từ năm 1970 đến năm 1977 là thời kỳ hòa hoãn giữa các nước lớn, hòa hoãn Mỹ - Xô, Tây Âu - Liên Xô, Mỹ - Trung Quốc, Tây Âu, Nhật Bản với Trung Quốc. Thiện chí và nỗ lực giảm căng thẳng của từng siêu cường đứng đầu mỗi cực thể hiện qua những cuộc gặp cấp cao giữa Liên Xô và Mỹ làm cho mối quan hệ giữa các nước TBCN Tây Âu và các nước XHCN Đông Âu cũng dần được cải thiện.
Sau một thời gian dài thương lượng, cuối cùng một bằng chứng quan trọng khác của sự hòa hoãn Đông - Tây, sự tháo ngòi cho các cuộc xung đột có thể xảy ra ở châu Âu cũng đã diễn ra - đó là cuộc gặp gỡ của Bộ trưởng Ngoại giao các quốc gia châu Âu tại Thủ đô Helsinki của Phần Lan trong các ngày 3 đến ngày 7-7-1975. Cuộc gặp mặt trên là bước đi dọn đường cho cuộc gặp thượng đỉnh của nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ các nước châu Âu tại Helsinki vào cuối tháng 7-1975 với việc ký kết Định ước Helsinki1. Trong nội bộ hệ thống các nước tư bản cũng có sự thay đổi. Tây Âu và Nhật Bản trở thành những trung tâm kinh tế mới cạnh tranh gay gắt với Mỹ, sự gắn bó với Mỹ về chính trị, quân sự, ngoại giao không còn chặt chẽ như trước.
Lợi dụng sự suy giảm thế và lực, khủng hoảng của Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản vươn lên, trở thành các trung tâm kinh tế thế giới, cạnh tranh quyết liệt với Mỹ. Đặc biệt, sự thâm nhập của Nhật Bản vào thị trường Mỹ và Tây Âu làm cho cả Mỹ và Tây Âu đều lo ngại. Mâu thuẫn trong nội bộ liên minh châu Âu tăng lên. Các khối quân sự trở nên lỏng lẻo hoặc tan, xu hướng độc lập với Mỹ trong thế giới phương Tây ngày càng rõ nét.
1 Định ước Helsinki đề cập đến nhiều nội dung quan trọng như: sự bình đẳng giữa các quốc gia, việc loại trừ sự đe dọa hay sử dụng vũ lực trong quan hệ, tính bất khả xâm phạm của các tuyến đường biên giới, sự không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; tăng cường phối hợp kinh tế, khoa học, kỹ thuật, trao đổi thông tin về các số liệu thống kê; tuân thủ quyền tự do và các quyền cơ bản của con người. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau chiến tranh Việt Nam, Mỹ rút quân khỏi ĐNÁ lục địa. Đối với Mỹ, thắng lợi của Việt Nam làm đảo lộn chiến lược toàn cầu, đẩy Mỹ lún sâu vào một số khó khăn, địa vị quốc tế giảm sút. Trước tình hình suy thoái về kinh tế và thất bại quân sự, Mỹ có sự điều chỉnh chiến lược.
Tháng 12-1975, Tổng thống G.Ford tuyên bố tại Honolulu về “Học thuyết Thái Bình Dương”. Ý đồ của Mỹ trong tuyên bố này là giữ nguyên trạng chính trị trên thế giới, duy trì địa vị lãnh đạo về kinh tế đối với các nước tư bản, thực hiện chính sách “răn đe” đi đôi với tăng cường giúp đỡ, sử dụng các chính quyền thân Mỹ, dàn xếp mâu thuẫn với các cường quốc Tây Âu và Nhật Bản, sử dụng thế “cân bằng lực lượng” lợi dụng mâu thuẫn bên ngoài, nhất là lợi dụng sự chia rẽ Xô - Trung, hoà hoãn với hai nước XHCN lớn, chia rẽ phong trào giải phóng dân tộc với các nước XHCN. Nét mới trong chiến lược của Mỹ “sau Việt Nam” là giảm cam kết ở bên ngoài, thúc đẩy hòa hoãn với các đối thủ chính, tập trung ưu tiên giải quyết các vấn đề trong nước để củng cố địa vị trong hệ thống TBCN. Mặt khác, ở vào thế phải đối phó cùng một lúc với nhiều vấn đề, Mỹ không thể giữ thái độ đối địch gay gắt, mà phải dùng chính sách hoà hoãn với những nước có vai trò và tác động lớn đối với cách mạng trong từng khu vực như Việt Nam ở ĐNÁ, Cuba ở Mỹ la tinh nhằm vừa lôi kéo, vừa hạn chế các nước đó, để giữ nguyên trạng ở các khu vực.
Sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ “sau Việt Nam” kéo theo sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn khác nói lên tác động to lớn của việc kết thúc chiến tranh ở Việt Nam không những đối với Việt Nam và Mỹ, mà với cả thế giới. Nhà sử học Mỹ Gabriel Kolko đã viết về điều đó như sau: “Chiến tranh Việt Nam là một sự kiện vĩ đại vượt quá phạm vi một nước và vượt quá cả thời gian và nó phản ánh, dưới hình thức rõ nét nhất, những sôi động và xu hướng cơ bản trong quá trình lịch sử kể từ năm 1946. Đó không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả lôgic của lòng tham, sức mạnh và nhược điểm đương thời của Mỹ” [59, tr.256] Sau 7 năm hòa hoãn Đông - Tây (1970-1977), từ năm 1978, Mỹ thúc đẩy chạy đua vũ trang với Liên Xô và các nước XHCN, tăng cường phản kích phong trào giải phóng dân tộc. Chiến lược ngăn chặn chống Liên Xô là cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Mỹ.
Để chống Liên Xô khi Liên Xô đưa quân vào Apganistăng và chống Việt Nam khi Việt Nam đưa quân đội vào giải phóng Campuchia khỏi nạn diệt chủng Pôn Pốt, 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chính phủ Rigân tiếp tục gây sức ép với Liên Xô và Việt Nam, Mỹ đòi Liên Xô rút quân khỏi Apganistăng, Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và ép quân đội Cuba rút khỏi Ănggôla. Ở Mỹ la tinh, Chính phủ Rigân ra sức ngăn chặn Liên Xô thông qua Cuba xâm nhập vào Trung Mỹ, tổ chức đội quân chống Chính phủ Nicaragoa. Trong lúc đó, Liên Xô tăng cường mở rộng ảnh hưởng ở châu Mỹ la tinh, châu Á, châu Phi, đặc biệt là ở các nước thuộc khối thuộc địa của Bồ Đào Nha mới giành được độc lập và quan tâm nhiều hơn đến ĐNÁ, châu Á - Thái Bình Dương.